Showing posts sorted by relevance for query Thiếu-Sinh-Quân. Sort by date Show all posts
Showing posts sorted by relevance for query Thiếu-Sinh-Quân. Sort by date Show all posts

Monday, October 17, 2022

Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn - Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang

 Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sĩ  là giáo sư Y Khoa Paris Pháp Quốc.
 Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG Cái Bóng Của  HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN
(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện
 -----------------------------

Tuesday, May 23, 2023

Bộ mặt thật của “Lê Văn Tâm” - Tướng Lê Văn Hưng's FAKE SON của Phố Bolsa TV

Bộ mặt thật của “
Lê Văn Tâm” - Tướng Lê Văn Hưng's FAKE SON của Phố Bolsa TV
 
Bộ mặt thật của “Lê Văn Tâm”, người nhận là con trai cả của Tướng Lê Văn Hưng.
Kính thưa các bạn hữu, các diễn đàn Việt Nam Cộng Hòa, các diễn đàn độc lập: Vì danh dự Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, gia đình Việt Nam Cộng Hòa và cộng đồng người Việt Nam khắp nơi trên thế giới.
 

Wednesday, April 24, 2024

Bảy Em Thiếu-Sinh-Quân Trong Ngày Chạy Nạn - fb Son H Cao

Bảy Em Thiếu-Sinh-Quân Trong Ngày Chạy Nạn

fb Son H Cao
Chuyện Tháng Tư Buồn: Tấm Hình Bảy Em Thiếu-Sinh-Quân Trong Ngày Chạy Nạn
Bảy thiếu-sinh-quân này vẫn quân-phục chỉnh-tề với áo bỏ vào quần cùng giày có vớ kéo lên cao nghiêm-chỉnh, và tất cả đều đội mũ beret quân-sự. Họ đi hàng hai bên nhau bình-tĩnh chững-chạc và kỷ-luật như một đoàn quân lên đường. 

Friday, August 16, 2013

• Kỷ niệm ngày CS xử bắn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn: 14/8/1975

Thursday, August 15, 2013
Phạm Phong Dinh 

Tên tuổi của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã bắt đầu lừng lẫy từ khi ông còn là một sĩ quan cấp Úy phục vụ trong binh chủng Mũ Nâu Biệt Động Quân ở Miền Tây. Các cấp chỉ huy Biệt Động Quân trong thời điểm đầu những năm 1960 đã để ý nhiều đến tân Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đội Trưởng BĐQ, về những hành động quả cảm đến phi thường trong những cuộc giao tranh.



Người Trung Đội Trưởng trẻ mới có 22 tuổi đời đã đứng xõng lưng dẫn quân Mũ Nâu xung phong lên đánh những trận long trời trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Những chiếc lon mới nở nhanh theo cùng với những chiến thắng. Chỉ trong vòng bốn năm, Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn đã được vinh thăng lên đến cấp bậc Đại Úy và được điều về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh “Tia Sét Miền Tây”. Lúc đó trên lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật đã nổi lên những khuôn mặt chiến binh dũng mãnh mà đã được ca tụng là những con mãnh hổ miền Tây, 

Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn có vinh dự nằm trong số năm vị này. Những vị còn lại gồm những tên tuổi như sau:
- Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân
- Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.
- Thiếu Tá Lê Văn Dần, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân.
- Thiếu Tá Lê Văn Hưng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, SĐ21BB.
- Thiếu Tá Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 33, SĐ21BB.

Thật ra bản danh sách này chỉ có tính cách ước lệ và tượng trưng, đâu phải một Miền Tây rộng bát ngát mà chỉ có vỏn vẹn có năm người hùng. Mỗi người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng được vinh danh là những anh hùng, vì những đóng góp máu xương quá lớn cho tổ quốc.

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24.3.1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá. Thân phụ của ông là một hạ sĩ quan phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (danh xưng của quân đội trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Đại Tá Cẩn không may sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, nên khi lên bảy tuổi ông sắp sửa cắp sách đến trường, thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, việc học của ông bị gián đoạn. Mãi hai năm sau, tức vào năm 1947 ông mới được đi học lại, sau khi tình hình ở các thành phố trở lại yên tĩnh, quân Việt Minh rút về các chiến khu, quân Pháp chiếm đóng các thành phố. Cậu bé Cẩn học muộn đến những hai năm, khi ông học tiểu học được bốn năm thì thân sinh của cậu quyết định xin cho cậu nhập học Trường Thiếu Sinh Quân Gia Định. Có lẽ vị thân sinh của người đã nhìn thấy được những dấu hiệu, những nảy nở của tinh thần và ý hướng, mà sau này sẽ hướng người vào con đường binh nghiệp, sẽ làm nên những công nghiệp lớn có ích lợi cho đất nước

Cuộc đời đèn sách trễ nải của chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn, lúc này đã 17 tuổi, đã ngáng bước đi lên về mặt văn hóa. Theo học quy của Trường Thiếu Sinh Quân, một học sinh ở độ tuổi 17 chưa học xong Đệ Ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Vì vậy chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn được trường gửi lên Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức học khóa chuyên môn CC1 Vũ Khí. Trong lớp văn hóa hồi ở Trường TSQ, ông chỉ ở mức trung bình, nhưng sau ba tháng học ở Thủ Đức, chàng trai trẻ lại đậu hạng ưu. Ông được cho học thêm khóa chuyên môn vũ khí bậc nhì CC2. Sau khóa học này ông quyết định đăng vào phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, với cấp bậc Binh Nhì. Theo quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân, thì ba tháng sau, Binh Nhì Hồ Ngọc Cẩn sẽ được thăng lên Hạ Sĩ, ba tháng kế tiếp được lên Hạ Sĩ Nhất và ba tháng sau nữa được thăng Trung Sĩ. Trong vòng chín tháng kế tiếp, với khả năng ưu hạng về môn vũ khí, Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được chọn làm huấn luyện viên vũ khí cho trường.

Cuộc đời làm huấn luyện của ông những tưởng êm đềm trôi và tài năng quân sự của người sẽ bị mai một trong một ngôi trường khiêm tốn. Nhưng định mệnh đã dành cho người anh hùng một vị trí xứng đáng trong quân đội và những cơ hội thi thố tài năng, mà sau này được mọi người truyền tụng lại như là những huyền thoại, để phục vụ và bảo vệ tổ quốc. Tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng cho một quốc gia non trẻ và một quân đội còn tập tễnh kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy thiếu hụt. Bộ Quốc Phòng quyết định mở các khóa Sĩ Quan Đặc Biệt bắt đầu từ năm 1962 để cung cấp thêm sĩ quan có khả năng cho chiến trường và nâng đỡ những Hạ Sĩ Quan có ước vọng thăng tiến. Một may mắn lớn cho Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn, mà cũng là may mắn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, một cựu Thiếu Sinh Quân, đã nâng đỡ cho các đàn em TSQ. Những Thiếu Sinh Quân không hội đủ năm năm quân vụ và có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vẫn được cho đi học Khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Hơn nữa, dường như Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Tướng Lê Văn Tỵ có mật lệnh, các tân Chuẩn Úy xuất thân từ Thiếu Sinh Quân đều được đưa về các binh chủng thiện chiến hay đặc biệt như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, Quân Báo, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt. Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ cũng không quên gửi những Thiếu Sinh Quân tốt nghiệp Tú Tài vào học các Trường Cao Đẳng Sư Phạm và Y Khoa để có nhân tài phục vụ xã hội và huấn luyện lại cho những thế hệ tuổi trẻ kế tiếp. Đặc biệt nhiều Thiếu Sinh Quân cũng được cho vào học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt để làm nền tảng cho cái xương sống chỉ huy chuyên nghiệp trong hệ thống quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được cho theo học Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH, Đồng Đế, Nha Trang. Các tân Chuẩn Úy Đặc Biệt, trong đó có Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn tung cánh đại bàng bay đi khắp bốn phương và sau này đã trở thành những sĩ quan tài giỏi nhất của quân lực, lưu danh quân sử. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn được thuyên chuyển về Biệt Động Quân Vùng 4 Chiến Thuật Miền Tây, sau một khóa học Rừng Núi Sình Lầy của binh chủng Mũ Nâu. Lúc đó các đại đội BĐQ biệt lập theo lệnh của TT Diệm, đã được cải tổ và sát nhập thành các tiểu đoàn. Khu 42 Chiến Thuật gồm lãnh thổ các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu và An Xuyên, có hai tiểu đoàn BĐQ, mà lại là hai tiểu đoàn lừng lẫy nhất của binh chủng. Đó là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp Ba Đầu Rằn”, và Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân “Cọp Xám”. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu Đoàn 42 BĐQ và làm Trung Đội Trưởng. Khả năng quân sự thiên bẩm, tài chỉ huy và sự chiến đấu hết sức gan dạ của Chuẩn Úy Cẩn, mà đã đem nhiều chiến thắng vang dội về cho TĐ42BĐQ, được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận, đã nhanh chóng xác nhận Trung Úy tân thăng Hồ Ngọc Cẩn có khả năng chỉ huy tiểu đoàn. Trung Úy Cẩn được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 42BĐQ, đặt dưới quyền chỉ huy của một chiến binh lừng lẫy và nhiều huyền thoại không kém gì Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, xuất thân từ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, với tác phong chiến đấu dũng cảm làm quân giặc kiêng sợ và thuộc cấp kính phục. Cung cách đánh giặc như vũ bão của Trung Úy Cẩn còn được nhân lên thập bội, khi lời yêu cầu của ông lên cấp chỉ huy xin cho các chiến binh gốc Thiếu Sinh Quân được về chiến đấu chung với ông. Lời yêu cầu này được thỏa mãn một phần, nhưng cũng đủ để cho Trung Úy Cẩn có thêm được sức mạnh cần thiết. Có lần ông tâm sự với một người bạn lý do này: “Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu Thiếu Sinh Quân này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng nó về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà quân trường không dạy. Hai là truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi. Vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu Thiếu Sinh Quân đều như tôi”.

Một câu chuyện dũng cảm và cảm động khác kể về Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 Bộ Binh tại mặt trận An Lộc năm 1972. Trong khi quân của Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh bị pháo địch nã hàng ngàn quả ghìm đầu xuống trong những hố cá nhân bên đường Quốc Lộ 13 gần thị xã An Lộc, thì binh sĩ trung đoàn ngạc nhiên lẫn cảm kích khi thấy vị Trung Đoàn Trưởng của họ dẫn vài người lính cũng quả cảm như vị chỉ huy điềm tĩnh đi thẳng lưng dưới cơn hỏa pháo cường kích như bão lửa của Sư Đoàn 7 Bắc Việt từ công sự này sang hố chiến đấu kia thăm hỏi chiến sĩ, an ủi các chiến thương và khích lệ tinh thần binh sĩ. Chiến binh Hồ Ngọc Cẩn coi thường cái chết, mà dường như cái chết cũng sợ hãi và tránh xa con người kiệt xuất ấy. Định mệnh sẽ dành cho người một cái chết cao cả nhất, ít nhất cũng chưa phải là trong mùa hè đỏ lửa của năm 1972. Dường như giữa Trung Tá Cẩn và cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí có rất nhiều chất hào hùng quả cảm giống như nhau. Đại Tướng Đỗ Cao Trí thường nói với các phóng viên ngoại quốc đi trong cánh quân của người, khi họ tỏ lòng khâm phục người chiến binh Nhảy Dù ấy đã đứng giơ cao khẩu súng Browning thúc giục binh sĩ tiến lên, giữa những làn đạn đan chéo như vải trấu của địch quân: “Nếu đạn không trúng mình thì mình được tiếng anh hùng, mà nếu đạn có trúng thì mình cũng được tiếng anh hùng luôn”!

Các loại pháo địch từ 122ly đến 130ly, chưa kể đến những loại cối 81 ly và các loại súng đại bác không giật 75 ly và 90 ly dội hàng chục ngàn quả lên vị trí của quân ta. Quân Trung Đoàn 15 đánh lên An Lộc dọc theo QL13 từ Tân Khai tiến rất chậm vì đạn pháo giặc. Để tránh bị thiệt hại nặng, Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn đã lệnh cho binh sĩ mỗi người đào một hố nhỏ như những cái “miệng ve” để ẩn trú. Nếu pháo dội trúng cái “miệng ve” nào, thì chỉ một chiến sĩ ở chỗ đó bị tử thương mà thôi. Trong một khoảng chiến tuyến mỗi chiều bề dài 300 thước, có hàng mấy trăm cái hố nhỏ, mấy ngàn quả pháo của cộng quân dội xuống, tính trung bình mỗi mét vuông lãnh vài trái. Nếu tính theo lý thuyết toán học thì mỗi chiến sĩ Trung Đoàn “ăn” từ hai trái lấy lên, và như vậy toàn bộ trung đoàn coi như chết hết. Nhưng thật kỳ diệu, chiến thuật “cò ỉa miệng ve” của quân ta lại cứu sống hàng ngàn sinh mạng chiến sĩ. Dứt cơn pháo địch, chiến sĩ ta nhú đầu lên điểm danh quân số, thì thấy rằng, nhờ ơn trời, rất ít chiến thương. Tuy nhiên khi quân Trung Đoàn 15 tiến quân trên QL13 và giao chiến với quân địch, thì con số thương vong lên rất cao. Có nhiều đại đội trên 100 người, khi tàn cuộc chiến trở về Quân Khu IV chỉ còn khoảng ba chục chiến sĩ.

Ở phía Nam Tân Khai, Sư Đoàn 21 Bộ Binh cũng bị thiệt hại nặng vì pháo, nhiều sĩ quan cao cấp bị tử thương. Trung Đoàn Trưởng của một trung đoàn là Trung Tá Nguyễn Viết Cần và một vị Trung Tá Trung Đoàn Phó của một trung đoàn khác hy sinh vì pháo địch quá ác liệt. Trung Tá Nguyễn Viết Cần chính là bào đệ của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh. Ông xuất thân từ binh chủng Mũ Đỏ Nhảy Dù, con đường binh nghiệp đang có nhiều triển vọng đi lên thì ông bị liên can trong vụ thuộc cấp ngộ sát hai Quân Cảnh Mỹ tại Sài Gòn. Thiếu Tá Cần bị thuyên chuyển về SĐ 21 BB, ít lâu sau ông thăng Trung Tá và nắm trung đoàn. Cuối cùng thì dòng họ Nguyễn Viết đã cống hiến cho đất nước đến hai người con ưu tú. Theo lời kể lại của Đại Úy Tiến, một vị Tiểu Đoàn Phó của Trung Đoàn 15 Bộ Binh lên An Lộc tham chiến, thì Trung Tá Cẩn đã lệnh cho ông phải đứng lên điều động binh sĩ giữa lúc đạn pháo giặc dội như bão xuống các vị trí Trung Đoàn. Tất cả các vị chỉ huy cao cấp của Trung Đoàn đều phải nêu gương dũng cảm cho thuộc cấp và chiến sĩ, để cùng xông lên giải cứu An Lộc. Vì những chiến công ngoài chiến trường, tính đến năm 1970 thì Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn là chiến sĩ được tưởng thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với 78 chiếc của gồm 1 Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, 25 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, 45 Anh Dũng Bội Tinh với các loại Ngôi Sao, 3 Chiến Thương Bội Tinh và 4 Huy Chương Hoa Kỳ.


Sau khi trở về từ An Lộc, Trung Đoàn 15 Bộ Binh còn tăng viện cho các trung đoàn bạn và Sư Đoàn 7 Bộ Binh đánh những trận long trời ở miền biên giới Việt-Miên, các tỉnh bờ Bắc

sông Tiền Giang. Những tổn thất và vết thương còn chưa hồi phục từ chiến trường Miền Đông, lại vỡ toác ra từng mảnh lớn khác. Nhưng có sá gì chuyện tử sinh, làm thân chiến sĩ thì người lính của chúng ta chỉ biết tận lực hiến dâng xương máu cho nền tự do của tổ quốc và cho niềm hạnh phúc của dân tộc. Một lần nữa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được trao cho một chức vụ trọng yếu và hết sức khó khăn, khó có ai đảm đương nổi. Ông sẽ đi trấn nhậm tỉnh Chương Thiện, một tỉnh có địa hình phức tạp nhất vùng đồng lầy Miền Tây, với cái gai nhọn nhức nhối mật khu U Minh Thượng trong lãnh thổ, từ đó quân Bắc Việt và Việt Cộng phóng ra những cuộc đánh phá lớn, uy hiếp các quận xã hẻo lánh. Chọn Đại Tá Cẩn về trấn giữ tỉnh Chương Thiện, vị Tư Lệnh Quân Đoàn IV biết chắc Đại Tá Cẩn cùng với lực lượng Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thiện chiến của ông sẽ ít nhất hóa giải được áp lực giặc, không cho chúng tiến xuống Cần Thơ. Giữ vững được Chương Thiện tức là bảo đảm an toàn cho lãnh thổ Quân Khu IV ở bờ Nam sông Hậu Giang.

Trong thời gian Đại Tá Cẩn làm tỉnh trưởng Chương Thiện, nhiều huyền thoại khác về ông đã được kể lại. Đại Tá Cẩn chẳng những là một nhà quân sự xuất chúng, mà còn là một nhà cai trị và bình định tài ba. Một ngày trước khi ông nhận bàn giao tỉnh Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã ăn mặc thường phục, giả dạng thường dân đi thanh tra ngầm một vòng tỉnh lỵ Vị Thanh. Ông vào các sòng bài, những nơi nhận tiền đánh số đề và những ổ điếm quan sát.

Ngày hôm sau, khi đã chính thức là vị Tỉnh Trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn cho gọi người Thiếu Tá Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh đến cật vấn nghiêm khắc về những tệ đoan xã hội trong tỉnh, rồi lập tức cách chức ông này. Thay vào đó là Trung Tá Đường, một vị sĩ quan mẫn cán và tài năng. Trung Tá Đường là cánh tay mặt vững chãi của Đại Tá trong lĩnh vực bình định, xã hội và truy bắt bọn Việt Cộng hoạt động dầy đặc trong tỉnh. Bọn cộng phỉ rất căm thù Trung Tá Đường, đến nỗi sau ngày 30.4.1975, chúng bắt được Trung Tá Đường, chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn rồi đem ông ra xử bắn tại Vị Thanh. Cùng đền ơn tổ quốc với Trung Tá Đường còn có Đại Úy Bé, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thám Báo Tỉnh. Đại Úy Bé đã làm điêu đứng bọn giặc cộng, với những chiến sĩ Thám Báo nhảy sâu vào hậu cứ địch báo cáo tin tức, địch tình, cũng như tọa độ trú quân để Không Quân, Pháo Binh dội những cơn bão lửa lên đầu chúng. Trung Tá Đường và Đại Úy Bé bị giặc tàn nhẫn bắn chết tại chân cầu dẫn vào thành phố Vị Thanh.

Có một ông Quận Trưởng nọ, muốn cho chi khu của mình được an toàn tối đa, chiều nào cũng xin Pháo Binh tiểu khu yểm trợ hỏa lực, nại lý do Việt Cộng pháo kích hay tấn công. Đại Tá Cẩn thỏa mãn tối đa và được báo cáo là quận bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực. Đại Tá tin thật, ông lệnh cho sĩ quan Trưởng Phòng 3 chuẩn bị xe Jeep đi xuống quận.

Buổi chiều chạng vạng trên những con đường đất hoang vắng rợn người ở vùng quê Chương Thiện mà vị Tỉnh Trưởng trẻ của chúng ta dám đi xe Jeep cùng với một vài người lính, chỉ có những chiến binh dũng cảm như Đại Tá Cẩn mới làm được. Ông Quận Trưởng đang nằm trên võng rung đùi uống Martell hoảng kinh ngồi bật dậy mặt mũi tái xanh đứng nghiêm chào vị Tỉnh Trưởng đầy huyền thoại. Đại Tá Cẩn đi thẳng xuống Trung Tâm Hành Quân của Chi Khu xem bản đồ và ra lệnh cho ông Quận: “Tôi muốn những ấp loại C sau ba tháng được nâng lên loại B. Những ấp loại B sau ba tháng phải được nâng lên loại A”. Ngài Quận Trưởng tạm ngưng uống rượu và làm việc trối chết. Đại Tá Cẩn không trừng trị tội xao nhãng nhiệm vụ của ông Quận, nhưng cung cách độ lượng và cương quyết của Đại Tá Cẩn giống như lưỡi gươm trừng phạt treo đung đưa trên đầu.

Đúng ba tháng sau, nhận được báo cáo khả quan của vị Quận Trưởng, Đại Tá Cẩn lại xuống quận ngủ đêm, sau khi đã trân trọng gắn lon mới tưởng thưởng cho ông này. Nếu tất cả 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đều có những vị Tỉnh Trưởng can đảm, mẫn cán và tài ba như Đại Tá Cẩn, làm sao giang sơn hoa gấm của tổ tiên của chúng ta có thể lọt vào tay bọn cộng nô tay sai Nga Tàu dễ dàng như vậy được. Chúng ta cũng được biết rằng, Đại Tá Cẩn là vị Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông nhận chức vụ này hồi năm 1973, lúc ông mới có 35 tuổi.

Những đóng góp và hy sinh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn lớn lao và nhiều không sao có thể kể được hết, suốt một đời người đã tận tụy với nước non, danh tiếng lừng lẫy và nắm giữ những chức vụ khó khăn, mà người vẫn khiêm nhường hết mực, giữ cuộc sống trong sáng và thanh liêm, tâm tư lúc nào cũng hướng về những thế hệ đàn em. Một người bạn cũ trong một dịp gặp lại Đại Tá Cẩn ở Cần Thơ vào mùa hè 1974, đã hỏi ông: “Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện làm Tỉnh Trưởng, anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm Tư Lệnh sư đoàn không”? Con người danh tiếng lừng lẫy trên các chiến trường đã khiêm tốn trả lời: “Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi, mình phải biết liêm sỉ chớ, coi sư đoàn sao được. Làm Tỉnh Trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi Trường Thiếu Sinh Quân, hoặc coi các lớp huấn luyện Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh mà tôi đã trải qua”. Ôi cao cả biết ngần nào tấm chân tình với nước non và với thế hệ chiến binh đàn em của người. Con người chân chính để lại cho hậu thế những lời khí khái.

Cuối cùng thì cái ngày tang thương 30.4.1975 của đất nước cũng đến. Dân tộc Việt Nam được chứng kiến những cái chết bi tráng hào hùng của những vị thần tướng nước Nam, của những sĩ quan các cấp còn chưa được biết và nhắc nhở tới. Và của những người chiến sĩ vô danh, một đời tận tụy vì nước non, những đôi vai nhỏ bé gánh vác cả một sức nặng kinh khiếp của chiến tranh. Sinh mệnh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng bị cuốn theo cơn lốc ai oán của vận mệnh đất nước. Chu vi phòng thủ của Tiểu Khu Chương Thiện co cụm dần, quân giặc hung hăng đưa quân tràn vào vây chặt lấy bốn phía. Những chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân của Chương Thiện nghiến răng ghì chặt tay súng, quyết một lòng liều sinh tử với vị chủ tướng anh hùng của mình. Đại Tá Cẩn nhớ lại lời đanh thép của ông: “Chết thì chết chứ không lùi”. Ông tự biết những khoảnh khắc của cuộc đời mình cũng co ngắn lại dần theo với chu vi chiến tuyến. Ông nhớ lại những ngày sình lầy với Biệt Động Quân, những ngày lên An Lộc với chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh đi trong cơn bão lửa ngửa nghiêng, những lúc cùng chiến sĩ Sư Đoàn 21 Bộ Binh đi lùng giặc trong những vùng rừng U Minh hoang dã, và những chuỗi ngày chung vai chiến đấu với chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thân thiết và dũng mãnh của ông trên những cánh đồng Chương Thiện hoang dã. Hơn ba trăm trận chiến đấu, nhưng chưa lần nào ông và chiến sĩ của ông phải đương đầu với một cuộc chiến cuối cùng khó khăn đến như thế này.

Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30.4.1975, gần nửa ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng, Đại Tá Cẩn cố liên lạc về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV xin lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Người trả lời ông lại là phu nhân Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Cẩn ngơ ngác không biết chuyện hệ trọng nào mà đã đưa Bà Hưng lên văn phòng Bộ Tư Lệnh. Bà Hưng áp sát ống nghe vào tai, bà nghe có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ầm ầm từ phía Đại Tá Cẩn. Như vậy là Tiểu Khu Chương Thiện vẫn còn đang chiến đấu ác liệt và không tuân lệnh hàng cùa tướng Minh. Trước đó, khoảng 8 G 45 phút tối 30.4.1975 Thiếu Tướng Lê Văn Hưng đã nổ súng tử tiết, Thiếu Tướng Nam đang đi thăm chiến sĩ và thương bệnh binh lần cuối cùng trong Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, rồi người tự sát ngay trong đêm. Bà Thiếu Tướng Hưng biết Đại Tá Cẩn kiên quyết chiến đấu đến cùng, thà chết không hàng, vì đó là tính cách thiên bẩm của người chiến sĩ Hồ Ngọc Cẩn. Nếu có chết thì Đại Tá Cẩn phải chết hào hùng, trong danh dự của một người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa công chính. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đã đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa vòng vây của bầy lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không còn gì để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính Cộng chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Việt Cộng tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng:”Anh Cẩn, tội anh đáng chết vì những gì anh đã gây ra cho chúng tôi”. Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời.

Nhưng bọn cộng phỉ không giết ông ngay, chúng đã có kế hoạch làm nhục người anh hùng sa cơ nhưng cứng cỏi của chúng ta. Các sĩ quan tham mưu được cho về nhà, nhưng Đại Tá Cẩn thì không, địch áp giải ông sang giam trong Ty Cảnh Sát Chương Thiện. Vài ngày sau, các sĩ quan Tiểu Khu Chương Thiện cũng bị gọi vào giam chung với Đại Tá Cẩn. Để làm nhục và hành hạ tinh thần người dũng tướng nước Nam, giặc cho phá hủy nhà cầu trong Ty Cảnh Sát và thay vào bằng một cái thùng nhựa. Mỗi buổi sáng, ngày nào chúng cũng bắt Đại Tá Cẩn cùng một người nữa khiêng thùng phân đi đổ. Người ưu tiên được làm nhục thứ hai là vị Phó Tỉnh Trưởng. Dù cho các sĩ quan của ta có đề nghị hãy để cho mọi người làm công tác công bằng, nhưng bọn Cộng vẫn nhất quyết đày đọa Đại Tá Cẩn. Người anh hùng của chúng ta chỉ mỉm cười, ung dung làm công việc của mình.  Chúa Jesus đã chẳng từng nói khi lên thập giá: “Lạy Cha ở trên trời, họ không biết việc họ đang làm” đó sao. Bà Đại Tá Cẩn lo sợ bị cộng quân trả thù nên bà đã đem cậu con trai duy nhất của ông bà là Hồ Huỳnh Nguyên, lúc ấy được 5 tuổi, về Cần Thơ ẩn náu và thay đổi lý lịch nhiều lần. Nhớ thương chồng, nhiều lúc bà đã liều lĩnh choàng khăn che mặt xuống Vị Thanh tìm đến Ty Cảnh Sát đứng bên này bờ con rạch nghẹn ngào nhìn vào sang dãy tường rào kín bưng. Một vài sĩ quan ra xách nước trông thấy bà đã tìm cách dẫn Đại Tá Cẩn ra. Những khoảnh khắc cuối cùng đẫm đầy nước mắt ấy sẽ theo ký ức của bà Đại Tá Cẩn đến suốt khoảng đời còn lại của bà. Đầu năm 1979 bà Cẩn cùng bé Nguyên liều chết vượt biển. Thượng Đế đã dang tay từ ái bảo vệ giọt máu duy nhất của Đại Tá Cẩn. Bà Cẩn và bé Nguyên đến được đảo Bidong thuộc Mã Lai. Mười tháng sau hai mẹ con bà Đại Tá Cẩn được phái đoàn phỏng vấn Mỹ cho định cư tại Hoa Kỳ theo dạng ưu tiên có chồng và cha bị cộng sản bắn chết tại Việt Nam.

Bọn phỉ không giết Đại Tá Cẩn ngay, chúng muốn làm nhục người và làm nhục quân dân Miền Tây. Bọn chúng sẽ thiết trí một pháp trường và dành cho người một cái chết thảm khốc hơn. Đại Tá Cẩn không thể tử tiết, vì là con chiên ngoan đạo, luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử. Đại Tá Cẩn thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thổ lộ tâm tư với thuộc cấp trước khi ra trận: “Sống chết nằm trong tay Chúa”. Vì vậy viên đạn cuối cùng người bắn vào kẻ thù, để cho chúng biết rằng nước Nam không thiếu anh hùng.

Quân dân Miền Tây đã tiếc thương cái chết của hai vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng trong ngày u ám đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giờ đây, cũng trong bầu không khí ảm đạm đau buồn của ngày 14.8.1975, người dân thủ phủ Cần Thơ sẽ được chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Bọn sói lang đã áp giải người từ Chương Thiện về Cần Thơ và cho bọn ngưu đầu đi phóng thanh loan báo địa điểm, giờ phút hành hình người anh hùng cuối cùng của Quân Lực Việt Cộng Hòa.

Bọn tiểu nhân cuồng sát thay vì nghiêng mình kính phục khí phách của người đối địch, thì chúng lại lấy lòng dạ của loài khỉ và loài quỷ để đòi máu của người phải chảy. Chúng quyết tâm giết Đại Tá Cẩn để đánh đòn tâm lý phủ đầu lên những người yêu nước nào còn dám tổ chức kháng cự lại bọn chúng. Thật đau đớn, trong khoảnh khắc cuối cùng này, bà Đại Tá Cẩn và người con trai còn phải ẩn trốn một nơi kín đáo theo lời căn dặn của Đại Tá Cẩn trước khi ông bị bắt, vì sợ bọn chúng bắt bớ tra tấn, nên bà không thể có mặt để chứng kiến giây phút Đại Tá Cẩn đi vào lịch sử.

Đại Tá Cẩn bị giải lên chỗ hành hình, mấy tên khăn rằn hung hăng ghìm súng bao quanh người chiến sĩ. Trước khi bắn người, tên chỉ huy cho phép người được nói. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: “Tôi chỉ có một mình, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối”. Dĩ nhiên lời yêu cầu không được thỏa mãn. Đại Tá Cẩn còn muốn nói thêm những lời trối trăn hào hùng nữa, nhưng người đã bị mấy tên khăn rằn nón cối xông lên đè người xuống và bịt miệng lại. Tên chỉ huy ra lệnh hành quyết người anh hùng. Điều duy nhất mà bọn chúng thỏa mãn cho người là không bịt mắt, để người nhìn thẳng vào những họng súng thù, nhìn lần cuối quốc dân đồng bào. Rồi người ngạo nghễ ra đi.

Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn. Thiếu Tá Tiếp đã cùng các chiến sĩ Địa Phương Quân Chi Khu chiến đấu dũng cảm đến sáng ngày 1.5.1975 thì ông bị sa vào tay giặc. Thiếu Tá Tiếp là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ông đã từng gây rất nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, nhờ tổ chức thám sát chính xác, có lần ông đã gọi B 52 dội trúng một trung đoàn cộng quân và hầu như xóa sổ trung đoàn này. Cộng quân ghi nhớ mối thù này, người anh hùng của chúng ta sa vào chúng, thì chúng sẽ giết chết ông không thương tiếc. Hai người anh hùng cuối cùng của miền Tây đã vĩnh viễn ra đi. Đất trời những ngày đầu mùa mưa bỗng tối sầm lại.

Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản”! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.

Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.


Đúng ra, phải vinh danh Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là Chuẩn Tướng Hồ Ngọc Cẩn, vì người đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường và vị quốc vong thân. Nhưng Tổng Thống Tổng Tư Lệnh, Tổng Tham Mưu Trưởng đã bỏ chạy từ lâu, Tư Lệnh Quân Khu IV đã tử tiết, lấy ai đủ tư cách trao gắn lon và truy thăng Chuẩn Tướng cho người. Anh linh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã thăng thiên. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử đến ngàn đời sau. Xin người hãy thương xót cho dân tộc và đất nước Việt Nam còn đang chìm đắm trong tối tăm và gông xiềng cộng sản, xin hãy ban cho những người còn đang sống khắc khoải sức mạnh và quyết tâm. Để cùng nhau đứng dậy lật đổ chúng, hất bọn chúng, tất cả bọn tự nhận là con cháu loài vượn đó vào vực thẳm lạnh lẽo nhất của địa ngục.

Phạm Phong Dinh

Sunday, May 24, 2015

• Lễ tốt nghiệp của 8 sĩ quan gốc Việt tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ - bởi BTV VANEWS


bởi BTV VANEWS
Lễ tốt nghiệp của các tân sĩ quan Hải quân tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ Annapolis, tiểu bang Maryland, hôm thứ Sáu, 22/5/2015. 8 sĩ quan gốc Việt tốt nghiệp cùng một lúc.
Hôm thứ Sáu, 22/5/2015, tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ Annapolis, tiểu bang Maryland diễn ra Lễ tốt nghiệp của các tân sĩ quan Hải quân. Trong đó, lần đầu tiên có 8 sĩ quan gốc Việt tốt nghiệp cùng một lúc.

Friday, February 17, 2023

Trận Thường Ðức, cuộc thư hùng Nam-Bắc cuối cùng - Khiet Nguyen (Vann Phan)

Trận Thường Ðức, cuộc thư hùng Nam-Bắc cuối cùng
Khiet Nguyen (Vann Phan)
Xin gửi đến tất cả một bài viết của một chiến hữu về Trận Thường Đức.
Dẫn nhập
Mặc dù trận đánh tại Thường Ðức (từ ngày 15 Tháng Tám đến ngày 8 Tháng Mười Một năm 1974), cũng như trận Long Khánh hồi Tháng Tư năm 1975, không phải là trận đánh sau hết trong Chiến Tranh Việt Nam, nhưng đây phải được coi là cuộc đọ sức cuối cùng trong số hằng trăm, hằng nghìn trận thư hùng lớn, nhỏ của quân đội hai miền Nam-Bắc, một trận Ðiện Biên Phủ khác trên chiến trường Việt Nam mà kẻ chiến thắng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Monday, October 16, 2023

NGƯỜI LÍNH VNCH CUỐI CÙNG (LÍNH ĐÁNH THUÊ?) - fb Yến Ngọc Hải Âu

 NGƯỜI LÍNH VNCH CUỐI CÙNG (LÍNH ĐÁNH THUÊ?)

họ vẫn anh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cho miền Nam TỰ DO. Ngày cuối rồi, còn ai đâu để phát lương cho họ, để trả tiền tử tuất hay trợ cấp cô nhi/quả phụ/ tổ phụ cho thân nhân họ .. lỡ họ hy sinh? 
Vì sao họ lại quên mình chiến đấu anh dũng đến thế? 
Vậy tại sao lại có những kẻ gọi họ là lính đánh thuê?

Tuesday, September 16, 2025

TRẬN THƯỜNG ĐỨC 1974 - Vann Phan

TRẬN THƯỜNG ĐỨC 1974
Vann Phan - fb Yến Ngọc Hải Âu
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
AI CON NHỚ ...AI ĐÃ QUÊN
TRẬN THƯỜNG ĐỨC
CUỘC THƯ HÙNG NAM–BẮC CUỐI CÙNG
Vann PhanGhi chú: mặt đông của Đồi 1062 là đồng bằng với các sông Thu bồn & Vu Gia, có "Đồi 52m" nằm án ngữ cửa vào các làng Hà Nha 3 & 4,
Đồi 52 là chốt của địch quân CSBV với chiến xa yểm trợ.

Tuesday, April 25, 2023

Vĩnh biệt đồi 1515 - (Di tản của Trường Võ Bị Đà Lạt ) - Huy Văn Trương

Vĩnh biệt đồi 1515 - (Di tản của Trường Võ Bị Đà Lạt)
Huy Văn Trương - fb Anka Pham

Hôm nay ngày 10 tháng 3 năm 1975, một ngày như mọi ngày, tôi đang ngồi trong Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt ôn bài vở. Chỉ còn ba tháng nữa là tôi xong cái bằng cử nhân, chuyện học bài khiến tôi bù đầu tóc rối.

Sunday, November 12, 2023

Cố Trung Tá Lưu Trọng Kiệt - Nguyễn Phúc An Sơn

Cố Trung Tá Lưu Trọng Kiệt

Nguyễn Phúc An Sơn

Cố Trung Tá Lưu Trọng Kiệt - Cọp Rằn Miền Tây với khuôn mặt thư sinh. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt là một trong Ngũ Hổ Miền Tây.
 

Monday, December 19, 2022

DI VẬT CỦA NGƯỜI LÍNH BIỆT ĐỘNG QUÂN/TĐ38 - NGUYỄN KHẮP NƠI

DI VẬT CỦA NGƯỜI LÍNH BIỆT ĐỘNG QUÂN/TĐ38

Vào lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật 20 tháng 10 năm 2019. Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh Việt Nam của Hội Cựu Quân Nhân Úc Tham Chiến Tại Việt Nam tổ chức buổi lễ khánh thành Hình Tượng Người Chiến Sĩ VNCH mặc quân phục tác chiến, với đầy đủ quân trang quân dụng cá nhân, đang cầm súng đứng gác giặc, tương tự như bức hình kèm theo đây. Sau buổi lễ, hình tượng này sẽ được trưng bầy vĩnh viễn tại Viện Bảo Tàng này cho công chúng thưởng lãm.

Friday, November 18, 2022

Giờ phút cuối cùng - Phan Đức Minh

Giờ phút cuối cùng
Phan Đức Minh - Son H Cao
Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 thật là hỗn độn, rối lọan. Quân đội và dân chúng từ các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế đổ xô về, làm cho cái thành phố đã đông dân này càng thêm đông đảo. 

Sunday, March 29, 2015

• Giờ phút cuối cùng của thành phố Đà Nẵng – 29 tháng 3/1975 - Phan Đức Minh

Phan Đức Minh
Những chuyện trong hơn 12 năm trong các trại tù cải tạo Tăng người thân và bạn bè đã sống và làm việc cùng tôi tại thành phố Đà Nẵng Trong giai đoạn này )
– Cảnh dân chạy loạn -

Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 thật là hỗn độn, rối lọan. Quân đội và dân chúng từ các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế đổ xô về, làm cho cái thành phố đã đông dân này càng thêm đông đảo. 

Saturday, February 14, 2015

• Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam - by Dorsey Edward Rowe

Nguyên bản Anh ngữ của Dorsey Edward Rowe 
Lê Bá Thông phiên dịch
Tọa lạc một cách kiêu hãnh trên vùng đồi núi có cao độ hơn 5000 bộ, giữa một rừng thông sầm uất thơ mộng gần thành phố Ðà Lạt, tại miền Cao nguyên thuộc Quân khu II với khí hậu điều hòa quanh năm là ngôi trường uy nghiêm đào tạo những anh tài của nước Việt Nam Cộng Hòa, đó là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, một biểu tượng sống của niềm hy vọng tương lai dân tộc.

Tuesday, June 20, 2023

Người Góa Phụ Giờ Thứ 25 - Phạm Tín An Ninh (fb Son H Cao)

 Người Góa Phụ Giờ Thứ 25
Phạm Tín An Ninh - fb Son H Cao

Tôi gặp chị trong buổi họp mặt của các anh Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, được tổ chức tại một nhà hàng ở thành phố Westminster, Nam Cali, nhằm kỹ niệm 55 năm ngày mãn khóa. Vợ chồng tôi có chút cơ duyên được xếp ngồi cùng bàn với chị. 

Saturday, February 28, 2015

• Mặt Trận Thường Đức 1974

(Từ ngày 18/8 đến ngày 8/11/1974 )
(Tài liệu lịch sử nầy sẽ được Gia Đình Mũ Đỏ xuất bản nay mai tại Hoa Kỳ)

Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào cuối tháng 1/1973, tình hình chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu. Hai sư đoàn Tổng trừ bị (Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến) vẫn còn bị lưu giữ tại Quân Khu 1. Lấy Quốc Lộ 1 làm ranh giới, Sư Đoàn Nhảy Dù trấn giữ phía Tây, dọc theo hành lang dãy Trường Sơn, và trách nhiệm luôn phần bảo vệ an ninh Quốc Lộ 1, từ cây số 17 ra tới bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị). 

Tuesday, April 14, 2026

TÂM SỰ NGƯỜI BẠI TƯỚNG (Khúc Cuồng Ca) - Th/Tướng Đỗ Kế Giai

(Khúc Cuồng Ca) - Th/Tướng Đỗ Kế Giai
50 năm sau ngày tàn chiến trận, xin đăng bài thơ của Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai để tưởng nhớ và tri ân binh sĩ đã hy sinh xương máu cho tự do của Miền Nam.
 

Sunday, April 23, 2023

Tướng QLVNCH bị “tù khổ sai” trên 17 năm (1975 -1992)

 

Tướng QLVNCH bị “tù khổ sai” trên 17 năm (1975 -1992)
Bachthanh Le

1– Thiếu Tướng Trần Bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Thiếu Tướng Trần Bá Di là một trong 4 vị Tướng sau cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà Cộng Sản Việt Nam đã thả sau 17 năm giam cầm trong lao tù. Nói đến Thiếu Tướng Trần Bá Di, những người đã từng biết ông, ai cũng thương mến và ca ngợi đức tánh xuề xòa, chân thật, bình dị, hết lòng với anh em nhưng rất kiên cường, bất khuất trước địch quân của ông.

Sunday, July 21, 2013

• Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù

Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù



 

TĐ6ND được thành lập ngày 1/5/1954 tại Hà Nội. Là đơn vị Nhảy Dù VN sau cùng do người Pháp chủ trương thành lập và là đơn vị Nhảy Dù đầu tiên với thành phần quân nhân hoàn toàn Việt Nam (nhiều nhất là người Khmer Krọm Nam Kỳ) được lựa chọn kỷ lưởng từ TÐ19 Khinh Quân tại Cà Mau. Tiểu Đoàn gồm Bộ Chỉ Huy, Đại Đội Trợ chiến và 4 Đại Đội tác chiến.

Thiếu Tá Đổ Cao Trí là vị Tiểu Đoàn Trưởng của TĐ19 Khinh Quân được chuyển qua làm Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù. Khi Thiếu Tá Trí lên làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù ngày 29/9/1954 thì Đại Úy Thạch Con TĐP được chỉ định thay thế chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù thành hình trước khi Điện Biên Phủ thất thủ có 7 ngày vì vậy TĐ6ND chưa tham gia trận đánh nào trước ngày hiệp định Geneva được ký kết giữa các phe phái. Ngay sau đó một thời gian ngắn toàn bộ Tiểu Đoàn được di chuyển vào Nam và đóng tại Tân Sơn Nhì Gia Định và hoạt động trong khuôn khổ của Vietnamese GAP 3.

Những trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ6ND :
- Ngày 1/5/1954 được thành lập tại Hà Nội. Và sau một thời gian ngắn di chuyển vào Sài Gòn

- Ngày 21/9/1955 do Đại Úy Nguyễn Văn Viên chỉ huy tham gia chiến dịch Hoàng Diệu tảo thanh lực lượng Bình Xuyên ở rừng Sác đến 24/10/1955.

- Ngày 5/11/1955 Khi kết thúc cuộc hành quân tiểu trừ tàn quân Bình Xuyên tại Sài Gòn - Chợ Lớn và Rừng Sác Sài Gòn, TĐ6ND và các đơn vị Nhảy Dù lại được điều động hành quân tại Núi Bà Ðen Tây Ninh để càn quét các lực lượng Cao Ðài ly khai.

- Ngày 26/11/1955 TĐ6ND và TĐ3ND tăng phái cho Sư Đoàn 11 khinh chiến trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng ở miền Tây truy lùng lực lượng của Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt (gồm 2 Trung Đoàn Lê-Quang và Trung Đoàn Nguyển Huệ) ở vùng Cái Dầu từ ấp Thanh Lợi đến xóm Láng.

- Ngày 12/12/1959 TĐ6ND cùng TĐ5ND hành quân vào Chiến Khu D để chận đánh địch quân trên đường rút lui vào Chiến Khu, sau khi chúng tấn công một Căn Cứ Trung Đoàn 10/SĐ7 Bộ Binh, thu hồi lại được số vũ khí và quân trang quân dụng bị địch chiếm đoạt.

- Ngày 1/11/1963 TĐ6ND (Thiếu Tá Lê Văn Đặng làm TĐT) do Đại Úy Vũ Thế Quang (một Đại Đội Trưởng) điều động từ Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp tại Bà Rịa về Sài Gòn tham gia cách mạng lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

- Ngày 9/2/1965 từng đoàn trực thăng HU-1B đã bay rợp trời đến bốc Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù (Thiếu Tá Vũ Thế Quang TĐT) và TĐ5ND (Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng TĐT) tại khu vực Trường Truyền Tin đưa vào vùng hành quân Hác Dịch để truy lùng hai Trung Đoàn Q761 Q762 của Cộng Quân.

- Ngày 1/11/1965 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Minh làm TĐT được không vận đến Trại LLĐB Đức Cơ cùng với Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Trương Quang Ân chỉ huy để tiếp ứng cho các Lữ Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ trong chiến dịch Ia Drang.

- Tháng 9/1965 TĐ5 cùng TĐ6 (Chiến Đoàn 2) tham gia hành quân hổn hợp với Lữ Đoàn 173 ND Mỹ trong trận Bến Cát.

- Ngày 18/1/1966 Không vận bằng C130 đến Qui Nhơn tham dự cuộc hành quân Thần Phong 11 Bồng Sơn, Tam Quan. Ngày 28/1 cùng TĐ5ND chạm địch dữ-dội khi tấn công vào làng Gia Hựu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Minh TĐT bị thương phải di tản.

- Ngày 31/1/1968 Khi Cộng quân tấn công vào Sài Gòn trong trận chiến Tết Mậu Thân Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù phối hợp với TĐ 8 Nhảy Dù đã hiện diện để bảo vệ Thủ Đô và thanh toán các đơn vị CS trong vùng cổng số 4 Bộ TTM và Trường Sinh Ngữ Quân Đội..

- Ngày 1/4/1968 TĐ6ND do Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước làm TĐT đã được điều động cùng chiến đoàn 3 ND do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy trong cuộc Hành quân Lam Sơn 207 A (Pegasus) giải vây căn cứ Khe Sanh.(TĐ3, 6, 8 Nhảy Dù)

- Ngày 19/4/1968 sau cuộc hành quân giải tỏa căn cứ Khe Sanh TĐ6ND lại được không vận về Huế để tham dự Hành quân Lam Sơn 216 (Delaware) tái chiếm Thung Lủng A-Shau.(LĐ3ND (TĐ3, 6, 8 ND)

- Ngày 1/5/1969 tại Bến Cồ Nổi Tây Ninh, TĐ6ND đã giao tranh dữ dội với 2 Trung Đoàn Công Quân. TĐ3ND được BCH/LĐ1ND điều động tới tiếp viện và ngày 19/5 lại giao tranh tiếp diển, 2 Trung đoàn 271 và 272 Cộng quân đã bị thiệt hại nặng gân như tan rã.

- Ngày 6/5/1970, trong cuộc Hành quân Toàn Thắng 43 bình Tây, TÐ6ND do Trung Tá Trương Vĩnh Phước làm Tiểu Đoàn Trưởng được thả vào vị trí phía Đông Bắc của căn cứ East I (TÐ3ND). TĐ6ND đã tung các Đại Đội tảo thanh quanh vị trí đóng quân của Tiểu đoàn và đã khám phá một hầm vũ khí toàn súng CKC còn mới nguyên trong bọc nhựa, cùng nhiều loại vũ khí khác và thuốc men. 4 chiếc trực thăng H34 chở liên tiếp mấy ngày chưa hết.

- Bắt đầu ngày 8/2/1971 TĐ6ND đã tham gia cuộc Hành Quân Hạ Lào Lam Sơn 719 đến ngày 6/4/1972. Tiểu đoàn 6ND chia thành 2 cánh, Cánh A do Trung Tá Trương Vĩnh Phước gồm các Đại Đội 60, 61 và 62 giữ an ninh cho BCH/LĐ2ND tại Tà Bạt, Cánh B gồm 2 Đại Đội 63 & 64 do TĐP Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy hoạt động phía Bắc của Alpha và Bravo.

- Ngày 4/4/1971, TĐ6ND do Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh làm TĐT cùng toàn thể LĐ2ND được không vận lên Pleiku từ phi trường Đông Hà bằng phi cơ C141 của Hoa Kỳ tăng phái cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh để mở cuộc Hành Quân Quang Trung 22/2 giải tỏa áp lực địch quân quanh Căn Cứ 6 ở Kontum.

- Ngày 6/4/1972, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, cùng LĐ1 ND do Đại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy di chuyển bằng đường bộ đến Lai Khê với nhiệm vụ tăng cường giải tỏa QL13 và giải vây An Lộc. Lai Khê là bản doanh của BTL/SÐ5BB.

- Lúc 14.30 giờ ngày 14/4/1972, TĐ6ND được trực thăng thả xuống tại một trảng trống giữa đồi Gió và đồi 169, đây là những chiến binh đầu tiên từ bên ngoài đã dũng cảm nhảy vào An Lộc để tăng cường chiến đấu bảo vệ một cứ điểm chiến lược quan trọng trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa.

- Ngày 4/6/1972, TĐ6ND lại được trực thăng vận xuống phía Bắc Căn Cứ Hỏa Lực Long Phi phía Nam thành phố An Lộc để giải tỏa QL13 từ Tân Khai hướng lên phía Bắc qua Xa Cam, Xa Trạch rồi Xa Cat. Và rồi đúng 17 giờ15 ngày 8 tháng 6, Đại Úy Ngô Xuân Vinh, Đại Đội Trưởng ĐĐ62, đứng lên mặt đường nhựa, ngã ba vào xã Thanh Bình (đồn điền Xa Cam) bắt tay với Đại Úy
Trương Ngọc Ni Đại Đội Trưởng 81 Nhảy Dù, đơn vị cực Nam của An Lộc để đánh dấu một chiến thắng quan trọng ngày giải tỏa AN LỘC.

- Ngày 8/5/1972 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, BCH/LÐ1ND cùng các Tiểu Đoàn 5, và 8 Nhảy Dù sau khi giải tỏa An Lộc được bổ sung quân số, tái huấn luyện và trang bị lần lược được không vận ra Huế tăng cường cho mặt trận Quân Khu I chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị.

- Ðầu tháng 11/1972, TÐ6ND thay thế TĐ7ND trấn đóng căn cứ Anne (Động Ông Đô) TÐ6ND đã giao tranh ác liệt và gây thiệt hại nặng nề cho đối phương, hơn 2 Tiểu Ðoàn cộng quân đã bị loại khỏi vòng chiến. 2 ÐĐT/TÐ6ND bị thương, khoảng 150 HSQ & BS bị thương vong.

- Ngày 11/8/1974 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyển Hửu Thành làm Tiểu Đoàn Trưởng cùng toàn bộ LĐ3ND được lệnh di chuyển bằng phi cơ từ phi trường Phú Bài xuống phi trường Đà Nẵng trách nhiệm án ngử ở quận Hiếu Ðức sau khi bàn giao khu vực trách cho Liên Ðoàn 15 Biệt Động Quân / Quân Khu 1.

- Chiều ngày 19/3/1975 TĐ6ND cùng LĐ3ND đang trên đường về Sài Gòn sau khi được lệnh triệt thoái khỏi Đà Nẳng, được lệnh đổ quân xuống Cầu Đá Nha Trang để tăng viện cho mặt trận Quân Khu 2. Sau khi cập Bến Nha Trang, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù điều động 3 Tiểu Đoàn 2, 5 & 6 Nhảy Dù cùng một Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly và Đại Đội 3 Trinh Sát Nhảy Dù đến lập tuyến phòng thủ dọc theo QL21 trên đèo M’Drak khởi đầu từ chân đèo Phượng Hoàng đến Khánh
Dương.

Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhẩy Dù :
1- Thiếu Tá Đổ Cao Trí. ( 1/3/1954 – 29/9/1954 ) Thiếu Tá Đổ Cao Trí làm Tiểu Đoàn Trưởng từ ngày thành lập cho đến ngày 29/9/1954 lên làm Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và bàn giao cho TĐP là Đại Úy Thạch Con.

2/ Ðại Úy Thạch Con. (29/9/1954 – 5/1955) thay thế Thiếu Tá Đổ Cao Trí đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 cho đến Tháng 5/1954 thi bỏ đơn vị sang xứ Kampuchea. Đại Úy Nguyễn Văn Viên từ TĐ5ND được điều động sang nắm giử chức vụ TĐT/TĐ6ND.

3- Đại Úy Nguyển Văn Viên (23/5/1955 – 1957 ) Từ TĐ5ND sang giữ chức TĐT/TĐ6ND cho đến cuối năm 1957 ông bị giải ngũ và Đại Úy Dư Quốc Đống đang chỉ huy Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự của Liên Đoàn Nhảy Dù được chỉ định thay thế.

4- Ðại Úy Dư Quốc Ðống (12/1957 -1959) Đại Úy Dư Quốc Đống đảm nhận chức vụ TĐT/TĐ6ND đến đầu năm 1959 ông được thuyên chuyển về làm TĐT/TĐ1ND và bàn giao lại cho Đại Úy Đỗ Kế Giai.

5- Ðại Úy Ðổ Kế Giai (1959 – 1962) Đại Úy Đổ Kế Giai đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND cho đến khi lên làm Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhày Dù.

6- Thiếu Tá Tông Hồ Hàm (1962) Từ Phủ Tổng Thống về làm TĐT TĐ6ND một thời gian ngắn.

7- Đại Úy Lê Văn Đặng (1962 – 1/11/1963) Đại Úy Lê Văn Đặng thay thế Thiếu Tá Tống Hồ Hàm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đến ngày 1/11/1963 thì bị Đại Úy Vũ Thế Quang thay thế để điều động đơn vị tham gia đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

8- Đại Úy Vũ Thế Quang (1963 – 1965) Đại Úy Vũ Thế Quang điều động TĐ6ND tham gia cách mạng thành công và được thăng cấp Thiếu Tá và vẫn duy trì chức vụ TĐT đến năm 1965 mới bàn giao lại cho Đại Úy Nguyễn Văn Minh.

9- Đại Úy Nguyễn Văn Minh (1965-30/6/1966 ) Đại Úy Nguyễn Văn Minh đảm nhiệm chức vụ TĐT TĐ6ND, sau trận Ia Drang được thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận. Đến ngày 30/6/1966 Thiếu Tá Minh bị thương trong cuộc hành quân Thần Phong 11 tại Tỉnh Bình Định và Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước thay thế.

10- Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước (1966 - 4/1971) Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước giử chức vụ TĐT TĐ6ND cho đến sau trận Hạ Lào tháng 4 năm 1971 bàn giao lại cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh để đảm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù

11- Thiếu Tá Nguyễn Văn Đĩnh (4/1971 – 11/72) Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh thay thế Trung Tá Trương Vĩnh Phước cho đến tháng 11/1972 trong cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa Trung Tá Đỉnh được chỉ định làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ1ND và bàn giao lại cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành

12- Thiếu Tá Nguyển Văn Thành (11/1972 - 30/3/1975) Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành nắm giử chức TĐT/TĐ6ND cho đến ngày 30/3/1975 bị Cộng quân bắt giử sau khi mặt trận Khánh Dương bị cộng quân tràn ngập.

13- Thiếu Tá Trần Tấn Hòa ( 1/4/1975 – 30/4/1975 ) Sau khi Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành bị Cộng quân bắt ngày 30/3/1975 tại Khánh Dương, BTL/SĐND chỉ định Thiếu Tá Trần Tấn Hòa, TĐP lên thay thế cho đến ngày cuối cùng 30/4/1975. 

Tài liệu tham khảo:
- 6e bataillon de parachutistes vietnamiens on Wikipedia L’encyclopedie libre
- Insignia of The Republic Of VietNam Airborne Division copyright @ 2002 by Harry F. Pugh
- Phỏng vấn trực tiếp một số chiến hữu và Niên Trưởng trong SĐND:

Trích từ quyển ‘20 Năm Chiến Sự’’- Binh chủng Nhảy Dù 
Đại Úy Võ Trung Tín - Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202
Đại Úy Nguyễn Hữu Viên - Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435

Tân Sơn Hòa chuyển