Tướng Hiếu Bị Ám Sát: Sự Kiện và Giả Tưởng
Khoảng 8 giờ sáng ngày 8/4/1975, Tướng Hiếu bay trực thăng đến Gò Dầu Hạ họp bàn chiến sự với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III. Vào thời điểm này xảy ra vụ oanh tạc Dinh Độc Lập.
Đà Lạt Ngày Về !!! ... This blog records news, information, literature, poem. or ... for researching only. If there are accidently having copyrights problems, let us know. Please. Enjoy/Decide, Comment/Share if you want. Thanks. Services Free! Research only. No money related. ... *** Keys search: HoaMai Dalat, DaLatNgayVe, hay thonhac2025 ***
HOME LINKS
- Home
- Người Lính Võ Bị
- AI OÁN
- Anh là giòng sông - Em là biển rộng
- B.PAS
- BĐQ
- BÌNH LUẬN
- Cảm Ơn
- China
- CỘNG SẢN Destroyed
- Đất MỸ ?
- Kẻ ÁC (VC) thắng
- KHI CHA ĐÃ GIÀ
- Khi Tôi Chết
- Learning English
- Mậu Thân 1968
- MỞ MẮT?
- ND
- Nhạc Lính VNCH
- NIỀM VUI CUỐI TUẦN
- Nợ nước Tình em
- QLVNCH
- QUỐC HẬN
- Tháng 3/75
- Thơ Văn
- Thông Báo
- Tìm Kiếm (Categories)
- Tìm người lính VNCH mất tích
- TQLC
- TSQ
- Tù Binh VC
- Tù Khổ Sai
- USA
- VC ĐẦU HÀNG VÔ ĐIỀU KIỆN
- VC Ngoại Ngữ
- VNCH
- Wrong Side
- XHCNVN
- Y Học
- Y Học (English)
- American News
- Hoa Kỳ
- Hòa NGA Diệt HÁN
- BIDEN-FAKE PRE.
- Barack Obama
- VÕ BỊ - VỊ QUỐC VONG THÂN
- NHẠC (AI Music)
- THƠ NHẠC Lính VNCH
Tuesday, December 27, 2022
Tướng Hiếu Bị Ám Sát - Nguyễn Văn Tín (em trai tướng Hiếu)
Sunday, July 2, 2023
Giải vây Đồi 46 - Căn cứ Alpha = BĐQ Đoàn Trọng Hiếu
Saturday, October 31, 2015
• Danh Sách Tữ Sĩ KQ/VNCH
1 Nguyễn văn Thân( Phi đoàn trưởng ) Tr/tá Phi đoàn 243 Mãnh sư 25/51973 Bà di
3 Nguyễn Hùng K26TD Đ/úy Phi đoàn 243 Mãnh sư 1973 Phù cát
Sunday, April 13, 2014
• Thượng Đức : Trận đánh đầu tiên
Thượng Đức : Trận đánh đầu tiên
Cách đây 10 hay 15 năm về trước, một số chính khách miền Nam lưu vong vẫn còn nuôi mộng trở lại nắm một địa vị hay một chức vụ nào đó trên quê hương, trong đó có cả cựu Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng lịch sử chẳng chờ ai. Thay vì quay trở lại quê hương, họ đã lần lượt đi vào lòng đất!
Saturday, September 7, 2013
• Sư Đoàn 22 BB ở Chiến Trường Dakto-tân Cảnh, Kontum Hè 72 Tổng lược về chiến sử của Sư đoàn 22 Bộ binh:
Sư Đoàn 22 BB ở Chiến Trường Dakto-tân Cảnh, Kontum Hè 72
Tổng lược về chiến sử của Sư đoàn 22 Bộ binh:
Sinh Tồn chuyển

Sư đoàn 22 Bộ binh có danh hiệu nguyên thủy là Sư đoàn Khinh chiến số 4 được thành lập ngày 1/5/1955 với ba trung đoàn tiên khởi: trung đoàn Bộ binh 401 (gồm tiểu đoàn 73, 90, 91), trung đoàn Bộ binh số 402 (gồm 3 tiểu đoàn 1, 94 và 95), trung đoàn Bộ binh 403 (tiểu đoàn 31, 92, 93). Đến tháng 10/1955, Sư đoàn được cải danh thành Sư đoàn Khinh chiến số 14, các trung đoàn và tiểu đoàn cũng được cải danh như sau: trung đoàn Bộ binh số 401 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 40 (các tiểu đoàn: 90 cải danh thành 1/40, tiểu đoàn 91 thành 2/40, tiểu đoàn 73 thành 3/40); trung đoàn Bộ binh 402 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 41 (các tiểu đoàn: 91 thành 1/41, 95 đổi thành 2/41, tiểu đoàn 1 cải danh là 3/41); trung đoàn Bộ binh số 402 cải danh thành trung đoàn 42 (các tiểu đoàn :92 thành 1/42, 93 thành 2/42, tiểu đoàn 31 thành 3/42.
Đầu năm 1959, theo cải tổ của Bộ Tổng Tham Mưu, các sư đoàn Khinh chiến 12, 13, và 16 bị giải tán. Các sư đoàn 11, 14, 15 được thâu nhận một phần lớn quân số của các sư đoàn giải tán để cải tổ thành các sư đoàn Bộ binh. Theo đó, sư đoàn Khinh chiến số 14 được cải danh thành Sư đoàn 22 Bộ binh với ba trung đoàn cơ hữu cải danh: trung đoàn Bộ binh số 40, số 41, số 42 thành trung đoàn Bộ binh 40, 41, 42. Sau này, do tình hình chiến trường, Sư đoàn 22 Bộ binh có thêm trung đoàn thứ 4, đó là trung đoàn 47 Bộ binh. Từ năm 1970, khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 22 Bộ binh bao gồm các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Kontum, Pleiku.
* Sơ lược về quân vụ của 9 vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh:
Từ khi cải danh từ Sư đoàn Khinh chiến thành Sư đoàn Bộ binh, Sư đoàn 22BB đã được được chỉ huy bởi 9 vị tư lệnh qua 11 thời kỳ (có hai vị hai lần giữ chức vụ này). Tư lệnh thứ 1 sau khi cải danh: trung tá Trần Thanh Chiêu (1/4/1959 đến 2/9/1959; vào thời gian 1962-1963, trung tá Chiêu là Thanh tra Dân vệ đoàn (Nghĩa quân), ông chỉ được thăng đến đại tá, mất tích vào tháng 4/1972); tư lệnh thứ 2: trung tá Nguyễn Bảo Trị (từ 3/9/1959 đến 4/11/1963; được thăng đại tá trong thời gian giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn này; thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3 vào đầu tháng 10/1965, thăng thiếu tướng vào cuối tháng 10/1965; tháng 6/1966: tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, sau đó giữ chức Tổng trưởng Thông tin Chiêu Hồi; thăng trung tướng vào cuối tháng 10/1967; chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Chỉ huy Tham mưu); tư lệnh thứ ba: đại tá Nguyễn Thanh Sằng (từ 5 tháng 11/1963 đến 4 tháng 2/1964, thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi đang phục vụ tại Vùng 1 chiến thuật; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn 4 (1972-1973), giải ngũ trước 30 tháng 4/1975.
Từ tháng 2/1964 đến tháng 4/1975, các đại tá và tướng lãnh sau đây đã chỉ huy Sư đoàn 22 Bộ binh: thiếu tướng Linh Quang Viên (từ 5 tháng 2/1964 đến 6/9/1964, rời Sư đoàn 22 Bộ binh, tướng Linh Quang Viên có thời gian giữ chức vụ tham mưu trưởng Liên quân từ 1965 đến 1966, thăng trung trướng vào cuối tháng 10/1967 và giữ chức Tổng trưởng Nội vụ trong nội các Nguyễn Văn Lộc, chức vụ cuối cùng: Chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang, giải ngũ vào tháng 3/1974); đại tá Nguyễn Văn Hiếu (từ 7 tháng 9/1964 đến 23/10/1964; đại tá Hiếu trở lại làm tư lệnh Sư đoàn 22 BB vào tháng 6/1966 và thăng chuẩn tướng vào năm 1967, đến tháng 8/1969, giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thăng thiếu tướng 1970, chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào hạ tuần tháng 4/1975);
Thứ 6: chuẩn tướng Nguyễn Xuân Thịnh (từ 24 tháng 10/1964 đến 1/3/1965, đại tá Thịnh được thăng cấp tướng khi vừa được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22, thăng thiếu tướng tháng 6/1968 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 25 BB, thăng trung tướng cuối năm 1971 và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh QL/VNCH vào đầu năm 1972); thứ 7: chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng (giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22BB lần thứ 2 từ 1/3/1965 đến 22/6/1966); thứ 8: chuẩn tướng Nguyễn Văn Hiếu (giữ chức tư lệnh lần thứ hai, từ 23/6/1966 đến 10/8/1969); thứ 9: Chuẩn tướng Lê Ngọc Triễn (từ 11 tháng 8/1969 đến cuối tháng 2/1972, thăng chuẩn tướng vào giữa năm 1970, đầu tháng 3/1972, được bổ nhiệm giữ chức tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu); thứ 10: đại tá Lê Đức Đạt (từ 1 tháng 3/1972 đến ngày 24/4/1972; trước khi giữ chức tư lệnh thay thế tướng Triễn, đại tá Đạt là tư lệnh phó Sư đoàn này, được ghi nhận là mất tích khi Cộng quân tấn công Tân Cảnh); tư lệnh cuối cùng: chuẩn tướng Phan Đình Niệm (từ 28 tháng 4/1972 đến 30/4/1972), tướng Niệm được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi ông đang là đại tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, được thăng chuẩn tướng cuối tháng 10/1972; ông đã có một thời gian đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong Bộ binh: tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh phó Sư đoàn.
* Sư đoàn 22 Bộ binh tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto mùa hè 1972:
Từ năm 1959 đến 1972, Sư đoàn 22 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô trong khu vực trách nhiệm, và đã lập nhiều chiến công, riêng trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Sư đoàn này đã trải qua một giai đoạn đầy bi tráng tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto. Toàn cảnh về trận chiến này được ghi nhận tổng lược như sau, dựa theo tài liệu của cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2:
Trong tháng 3/1972, những tin tức tình báo ghi nhận về sự tăng cường lực lượng của Cộng quân ở khu vực Kontum đã làm cho trung tướng Ngô Du-Tư lệnh Quân đoàn 2 lo lắng. Dựa trên những báo cáo của Phòng 2 Quân đoàn và sau khi hội ý với cố vấn trưởng Quân đoàn là ông John P. Vann, trung tướng Ngô Du đã cho tái phối trí lực lượng để bảo vệ mặt Bắc Kontum. Theo đó, bộ tư lệnh Tiền Phương Sư đoàn 22 Bộ binh cùng trung đoàn 47, một thành phần Tiếp vận quan trọng của Sư đoàn từ bản doanh chính tại Bình Định di chuyển đến Tân Cảnh-Dakto. Tại cụm phòng tuyến này, bộ tư lệnh hành quân của Sư đoàn đặt chung với bộ chỉ huy Hành quân của Trung đoàn 42 Bộ binh đã hoạt động tại đây từ trước. Về lực lượng Thiết giáp, ngoài thiết đoàn cơ hửu, Sư đoàn 22 Bộ binh được Quân đoàn 2 tăng cường 1 chi đoàn của thiết đoàn 19 thuộc Lữ đoàn 2 Kỵ Binh.
Hỗ tương phòng thủ cùng với Sư đoàn 22 Bộ binh là lữ đoàn 2 Nhảy Dù do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy. Lữ đoàn này phòng thủ các căn cứ Delta và Charlie ở dãy đồi phía Tây sông Polco. (Vào 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4/1972, sư đoàn 320 CSBV đã tấn công cường tập căn cứ Delta, nhưng địch quân đã bị đẩy lùi. Tiếp đến ngày 14 tháng 4/1972, Cộng quân lại mở cuộc tấn công vào căn cứ Charlie, trung tá Nguyễn Đình Bảo, chỉ huy tiểu đoàn 11 Nhảy Dù phòng ngự căn cứ này đã bị tử thương do trúng một quả hỏa tiễn 122 ly. Chi tiết về hai trận tấn công này sẽ được trình bày trong bài viết về lữ đoàn 2 Nhảy Dù).
Ngày 20 tháng 4/1972, tình hình tại mặt trận Quảng Trị ở Quân khu 1 quá nặng, bộ Tổng tham mưu quyết định điều động lữ đoàn 2 Nhảy Dù tăng cường cho giới tuyến. Tướng 3 sao CSBV là Hoàng Minh Thảo, tư lệnh B3 (Cộng quân tại Cao nguyên) thấy lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên đã cho tiến hành kế hoạch tấn công cấp tốc để “dứt điểm” Sư đoàn 22 Bộ binh. Lực lượng chính mà B 3 sử dụng để tấn công Sư đoàn 22 BB là sư đoàn 320 và sư đoàn 2 Sao Vàng với thành phần phụ lực là một lữ đoàn chiến xa. Các đơn vị Cộng quân đều có phân đội trang bị hỏa tiển Sagger (các sĩ quan tình báo chiến trường của VNCH gọi là AT 3), loại hỏa tiển chống chiến xa có tầm tác xạ hữu hiệu tối đa là 2 ngàn mét.
Từ ngày 20 đến 22/4/1972, các sư đoàn CSBV áp sát vòng đai Tân Cảnh. Trước tình hình mới, đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, sau khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của địch đã xuất hiện, đã trình với trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2- xin tiến hành ngay kế hoạch tiêu diệt địch bằng B 52 mà trước đây tướng Du và cố vấn Paul Vann đã tính toán. Điều bất ngờ là ông Paul Vann đã từ chối đề nghị của Quân đoàn 2 sử dụng B 52 để “dọn sạch” đối phương, nguyên nhân là ông Paul Vann không muốn yểm trợ cho đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22. Trước thái độ của ông Paul Vann, trung tướng Ngô Du tức giận la lớn: Ông Paul Vann, ông là bạn hay kẻ thù của tôi. Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông bay trực thăng xuống mặt trận Bắc Bình Định. Tư lệnh chiến trường này là đại tá Trần Hiếu Đức, trung đoàn trưởng trung đoàn 40/Sư đoàn 22 Bộ binh. Đại tá Đức chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ lực lượng bộ chiến hoạt động trong ba quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan.
Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 22 đã giao tranh với địch tại một vị trí gần bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn. Cũng trong ngày này, Cộng quân pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hỏa tiễn 122 ly. Lực lượng chiến xa bảo vệ bộ Tư lệnh lúc bấy giờ chỉ có 10 chiếc, được điều động dàn đội hình ngăn chận địch, đã bị hỏa tiễn Sagger của Cộng quân bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Một sĩ quan cấp thiếu tá tên là Như cùng một cố vấn Hoa Kỳ là đại úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, sử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai sĩ quan Việt-Mỹ này chết tại chỗ.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, quân trú phòng tại quận này quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T 54 tiến về hướng quận. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Sư đoàn 22 Bộ binh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động C 130 Spectre lên thả trái sáng. Trong khi đó, các chiến binh thuộc thành phần phòng ngự vòng đai bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn, từ các hầm chiến đấu cá nhân, thấy 15 chiến xa T 54 khác của địch chạy về Tân Cảnh. Phi cơ C 130 Spectre tác xạ để ngăn chận chiến xa địch, nhưng không có hiệu quả vì loại phi cơ này không có đạn chống chiến xa. Tình hình chiến sự tại Tân Cảnh đã bước vào những giờ phút quyết định của cuộc chiến.
Sinh Tồn chuyển
Đầu năm 1959, theo cải tổ của Bộ Tổng Tham Mưu, các sư đoàn Khinh chiến 12, 13, và 16 bị giải tán. Các sư đoàn 11, 14, 15 được thâu nhận một phần lớn quân số của các sư đoàn giải tán để cải tổ thành các sư đoàn Bộ binh. Theo đó, sư đoàn Khinh chiến số 14 được cải danh thành Sư đoàn 22 Bộ binh với ba trung đoàn cơ hữu cải danh: trung đoàn Bộ binh số 40, số 41, số 42 thành trung đoàn Bộ binh 40, 41, 42. Sau này, do tình hình chiến trường, Sư đoàn 22 Bộ binh có thêm trung đoàn thứ 4, đó là trung đoàn 47 Bộ binh. Từ năm 1970, khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 22 Bộ binh bao gồm các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Kontum, Pleiku.
* Sơ lược về quân vụ của 9 vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh:
Từ khi cải danh từ Sư đoàn Khinh chiến thành Sư đoàn Bộ binh, Sư đoàn 22BB đã được được chỉ huy bởi 9 vị tư lệnh qua 11 thời kỳ (có hai vị hai lần giữ chức vụ này). Tư lệnh thứ 1 sau khi cải danh: trung tá Trần Thanh Chiêu (1/4/1959 đến 2/9/1959; vào thời gian 1962-1963, trung tá Chiêu là Thanh tra Dân vệ đoàn (Nghĩa quân), ông chỉ được thăng đến đại tá, mất tích vào tháng 4/1972); tư lệnh thứ 2: trung tá Nguyễn Bảo Trị (từ 3/9/1959 đến 4/11/1963; được thăng đại tá trong thời gian giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn này; thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3 vào đầu tháng 10/1965, thăng thiếu tướng vào cuối tháng 10/1965; tháng 6/1966: tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, sau đó giữ chức Tổng trưởng Thông tin Chiêu Hồi; thăng trung tướng vào cuối tháng 10/1967; chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Chỉ huy Tham mưu); tư lệnh thứ ba: đại tá Nguyễn Thanh Sằng (từ 5 tháng 11/1963 đến 4 tháng 2/1964, thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi đang phục vụ tại Vùng 1 chiến thuật; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn 4 (1972-1973), giải ngũ trước 30 tháng 4/1975.
Từ tháng 2/1964 đến tháng 4/1975, các đại tá và tướng lãnh sau đây đã chỉ huy Sư đoàn 22 Bộ binh: thiếu tướng Linh Quang Viên (từ 5 tháng 2/1964 đến 6/9/1964, rời Sư đoàn 22 Bộ binh, tướng Linh Quang Viên có thời gian giữ chức vụ tham mưu trưởng Liên quân từ 1965 đến 1966, thăng trung trướng vào cuối tháng 10/1967 và giữ chức Tổng trưởng Nội vụ trong nội các Nguyễn Văn Lộc, chức vụ cuối cùng: Chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang, giải ngũ vào tháng 3/1974); đại tá Nguyễn Văn Hiếu (từ 7 tháng 9/1964 đến 23/10/1964; đại tá Hiếu trở lại làm tư lệnh Sư đoàn 22 BB vào tháng 6/1966 và thăng chuẩn tướng vào năm 1967, đến tháng 8/1969, giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thăng thiếu tướng 1970, chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào hạ tuần tháng 4/1975);
Thứ 6: chuẩn tướng Nguyễn Xuân Thịnh (từ 24 tháng 10/1964 đến 1/3/1965, đại tá Thịnh được thăng cấp tướng khi vừa được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22, thăng thiếu tướng tháng 6/1968 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 25 BB, thăng trung tướng cuối năm 1971 và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh QL/VNCH vào đầu năm 1972); thứ 7: chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng (giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22BB lần thứ 2 từ 1/3/1965 đến 22/6/1966); thứ 8: chuẩn tướng Nguyễn Văn Hiếu (giữ chức tư lệnh lần thứ hai, từ 23/6/1966 đến 10/8/1969); thứ 9: Chuẩn tướng Lê Ngọc Triễn (từ 11 tháng 8/1969 đến cuối tháng 2/1972, thăng chuẩn tướng vào giữa năm 1970, đầu tháng 3/1972, được bổ nhiệm giữ chức tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu); thứ 10: đại tá Lê Đức Đạt (từ 1 tháng 3/1972 đến ngày 24/4/1972; trước khi giữ chức tư lệnh thay thế tướng Triễn, đại tá Đạt là tư lệnh phó Sư đoàn này, được ghi nhận là mất tích khi Cộng quân tấn công Tân Cảnh); tư lệnh cuối cùng: chuẩn tướng Phan Đình Niệm (từ 28 tháng 4/1972 đến 30/4/1972), tướng Niệm được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi ông đang là đại tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, được thăng chuẩn tướng cuối tháng 10/1972; ông đã có một thời gian đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong Bộ binh: tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh phó Sư đoàn.
* Sư đoàn 22 Bộ binh tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto mùa hè 1972:
Từ năm 1959 đến 1972, Sư đoàn 22 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô trong khu vực trách nhiệm, và đã lập nhiều chiến công, riêng trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Sư đoàn này đã trải qua một giai đoạn đầy bi tráng tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto. Toàn cảnh về trận chiến này được ghi nhận tổng lược như sau, dựa theo tài liệu của cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2:
Trong tháng 3/1972, những tin tức tình báo ghi nhận về sự tăng cường lực lượng của Cộng quân ở khu vực Kontum đã làm cho trung tướng Ngô Du-Tư lệnh Quân đoàn 2 lo lắng. Dựa trên những báo cáo của Phòng 2 Quân đoàn và sau khi hội ý với cố vấn trưởng Quân đoàn là ông John P. Vann, trung tướng Ngô Du đã cho tái phối trí lực lượng để bảo vệ mặt Bắc Kontum. Theo đó, bộ tư lệnh Tiền Phương Sư đoàn 22 Bộ binh cùng trung đoàn 47, một thành phần Tiếp vận quan trọng của Sư đoàn từ bản doanh chính tại Bình Định di chuyển đến Tân Cảnh-Dakto. Tại cụm phòng tuyến này, bộ tư lệnh hành quân của Sư đoàn đặt chung với bộ chỉ huy Hành quân của Trung đoàn 42 Bộ binh đã hoạt động tại đây từ trước. Về lực lượng Thiết giáp, ngoài thiết đoàn cơ hửu, Sư đoàn 22 Bộ binh được Quân đoàn 2 tăng cường 1 chi đoàn của thiết đoàn 19 thuộc Lữ đoàn 2 Kỵ Binh.
Hỗ tương phòng thủ cùng với Sư đoàn 22 Bộ binh là lữ đoàn 2 Nhảy Dù do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy. Lữ đoàn này phòng thủ các căn cứ Delta và Charlie ở dãy đồi phía Tây sông Polco. (Vào 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4/1972, sư đoàn 320 CSBV đã tấn công cường tập căn cứ Delta, nhưng địch quân đã bị đẩy lùi. Tiếp đến ngày 14 tháng 4/1972, Cộng quân lại mở cuộc tấn công vào căn cứ Charlie, trung tá Nguyễn Đình Bảo, chỉ huy tiểu đoàn 11 Nhảy Dù phòng ngự căn cứ này đã bị tử thương do trúng một quả hỏa tiễn 122 ly. Chi tiết về hai trận tấn công này sẽ được trình bày trong bài viết về lữ đoàn 2 Nhảy Dù).
Ngày 20 tháng 4/1972, tình hình tại mặt trận Quảng Trị ở Quân khu 1 quá nặng, bộ Tổng tham mưu quyết định điều động lữ đoàn 2 Nhảy Dù tăng cường cho giới tuyến. Tướng 3 sao CSBV là Hoàng Minh Thảo, tư lệnh B3 (Cộng quân tại Cao nguyên) thấy lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên đã cho tiến hành kế hoạch tấn công cấp tốc để “dứt điểm” Sư đoàn 22 Bộ binh. Lực lượng chính mà B 3 sử dụng để tấn công Sư đoàn 22 BB là sư đoàn 320 và sư đoàn 2 Sao Vàng với thành phần phụ lực là một lữ đoàn chiến xa. Các đơn vị Cộng quân đều có phân đội trang bị hỏa tiển Sagger (các sĩ quan tình báo chiến trường của VNCH gọi là AT 3), loại hỏa tiển chống chiến xa có tầm tác xạ hữu hiệu tối đa là 2 ngàn mét.
Từ ngày 20 đến 22/4/1972, các sư đoàn CSBV áp sát vòng đai Tân Cảnh. Trước tình hình mới, đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, sau khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của địch đã xuất hiện, đã trình với trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2- xin tiến hành ngay kế hoạch tiêu diệt địch bằng B 52 mà trước đây tướng Du và cố vấn Paul Vann đã tính toán. Điều bất ngờ là ông Paul Vann đã từ chối đề nghị của Quân đoàn 2 sử dụng B 52 để “dọn sạch” đối phương, nguyên nhân là ông Paul Vann không muốn yểm trợ cho đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22. Trước thái độ của ông Paul Vann, trung tướng Ngô Du tức giận la lớn: Ông Paul Vann, ông là bạn hay kẻ thù của tôi. Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông bay trực thăng xuống mặt trận Bắc Bình Định. Tư lệnh chiến trường này là đại tá Trần Hiếu Đức, trung đoàn trưởng trung đoàn 40/Sư đoàn 22 Bộ binh. Đại tá Đức chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ lực lượng bộ chiến hoạt động trong ba quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan.
Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 22 đã giao tranh với địch tại một vị trí gần bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn. Cũng trong ngày này, Cộng quân pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hỏa tiễn 122 ly. Lực lượng chiến xa bảo vệ bộ Tư lệnh lúc bấy giờ chỉ có 10 chiếc, được điều động dàn đội hình ngăn chận địch, đã bị hỏa tiễn Sagger của Cộng quân bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Một sĩ quan cấp thiếu tá tên là Như cùng một cố vấn Hoa Kỳ là đại úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, sử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai sĩ quan Việt-Mỹ này chết tại chỗ.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, quân trú phòng tại quận này quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T 54 tiến về hướng quận. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Sư đoàn 22 Bộ binh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động C 130 Spectre lên thả trái sáng. Trong khi đó, các chiến binh thuộc thành phần phòng ngự vòng đai bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn, từ các hầm chiến đấu cá nhân, thấy 15 chiến xa T 54 khác của địch chạy về Tân Cảnh. Phi cơ C 130 Spectre tác xạ để ngăn chận chiến xa địch, nhưng không có hiệu quả vì loại phi cơ này không có đạn chống chiến xa. Tình hình chiến sự tại Tân Cảnh đã bước vào những giờ phút quyết định của cuộc chiến.
Sunday, August 27, 2023
Trận Đánh Trại Lực Lượng Đặc Biệt Pleime 1965 (fb Sài Gòn trong tôi)
Saturday, September 7, 2013
• Sư Đoàn 5 BB ở Chiến Trường An Lộc, Bình Long, Hè 1972
Sư Đoàn 5 BB ở Chiến Trường An Lộc, Bình Long, Hè 1972
Sinh Tồn chuyển
* Lược trình về quân vụ của 17 vị tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh:
Tư lệnh đầu tiên của sư đoàn là đại tá Vòng A Sáng, người đã sáng lập lực lượng Nùng tại Bắc Việt. Đại tá Sáng chỉ huy sư đoàn đến 24/10/1955 thì bàn giao chức vụ cho đại tá Phạm Văn Đổng. Từ 25 tháng 6/1955 đến 30 tháng 4/1975, Sư đoàn được chỉ huy bởi 16 vị tư lệnh sau đây:
- Đại tá Phạm Văn Đổng (25/10/1956 đến 17 tháng 3/1958; đại tá Đổng thăng chuẩn tướng tháng 5/1964, thăng thiếu tướng 1965, và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: tư lệnh Biệt khu Thu đô, Tổng trưởng Cựu chiến binh).
- Trung tá Nguyễn Quang Thông (18/3/1958 đến 15/9/1958, chỉ được thăng đến đại tá)
- Đại tá Tôn Thất Xứng (16/9/1958 đến 18/11/1958, thăng thiếu tướng tháng 2/1964, khi vừa được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn 1 & Vùng 1 chiến thuật, chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự- sau này là trường Chỉ huy Tham mưu-từ tháng 11/1964 đến năm 1966).
- Trung tá Đặng Văn Sơn (19 tháng 11/1958 đến 2 tháng 8/1959, chỉ thăng đến đại tá)
- Đại tá Nguyễn Văn Chuân (3 tháng 8/1959 đến 19/5/1961, thăng chuẩn tướng tháng 11/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, thăng thiếu tướng tháng 11/1965, tháng 3/1966 giữ chức tư lệnh Quân đoàn 1, tháng 4/1966 giữ chức tổng cục trưởng Quân Huấn, giải ngũ vào giữa năm 1966, cựu thượng nghị sĩ).
- Thiếu tướng Trần Ngọc Tám (20/5/1961 đến 15/10/1961, thăng trung tướng tháng 3/1964 khi giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3/Vùng 3; tháng 9/1964, tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân, giữa năm 1965, giữ chức chủ tịch Ủy ban điều hành Quốc tế Quân viện)
- Đại tá Nguyễn Đức Thắng (16 tháng 10/1961 đến 19/12/1962, thăng chuẩn tướng tháng 8/1964 khi đang giữ chức trưởng phòng 3 Bộ Tổng tham mưu, thăng thiếu tướng tháng 11/1965 và được cử giữ chức Tổng ủy viên (tổng trưởng) Xây dựng Nông Thôn; thăng trung tướng vào tháng 5/1968 khi đang giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4 & Vùng 4 chiến thuật, chức vụ cuối cùng: phụ tá Kế hoạch Tổng tham mưu trưởng.
- Đại tá Nguyễn Văn Thiệu (20 tháng 12/1962 đến 1 tháng 2/1964, thăng thiếu tướng ngày 2 tháng 11/1963; tháng 2/1964 giữ chức Tham mưu trưởng Liên quân; tháng 9/1964, giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4, thăng trung tướng tháng 12/1964; tháng 2/1965 đến tháng 6/1965, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng của nội các Phan Huy Quát; 19/6/1965 đến 30/101/1967: chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia; 31/10/1967: Tổng thống VNCH).
- Thiếu tướng Đặng Thành Liêm (2/2/1964 đến 5 tháng 6/1964, giải ngũ vào năm 1965).
- Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn (5 tháng 6/1964 đến 20/10/1964, thăng thiếu tướng 1967, thăng trung tướng 1971, chức vụ cuối cùng: phụ tá thủ tướng, trung tâm trưởng trung tâm Điều hợp về Bình Định & Xây dựng Nông thôn).
- Chuẩn tướng Trần Thanh Phong (từ 21 tháng 10/1964 đến 18/7/1965, thăng thiếu tướng 11/1967, từng giữ các chức vụ quan trọng: tổng trưởng Xây dựng nông thôn, tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, tử nạn do phi cơ rớt vào năm 1972 khi làm phụ tá cho trung tướng Cao Hảo Hớn).
- Thiếu tướng Phạm Quốc Thuần (từ 19 tháng 7/1965 đến 14/8/1969, nhận chức tư lệnh khi còn là đại tá, thăng chuẩn tướng tháng 6/1966, thăng thiếu tướng tháng 6/1968; thăng trung tướng 1972; các chức vụ kế tiếp: từ tháng 8/1969 đến tháng 11/1973, chỉ huy trưởng trường Bộ binh; tư lệnh Quân đoàn 3; từ tháng 11/1974: chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan QL/VNCH).
- Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu (từ ngày 15/10/1969 đến 13 tháng 6/1971, nhận chức tư lệnh khi còn chuẩn tướng, thăng thiếu tướng tháng 6/1970; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào cuối tháng 4/1975).
- Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (14 tháng 6/1971 đến 3 tháng 9/1972, nhận chức tư lệnh khi còn đại tá, thăng chuẩn tướng năm 1972, các chức vụ kế tiếp: tư lệnh phó Quân khu 3, tư lệnh Sư đoàn 21 BB, tư lệnh phó Quân đoàn 4-tự sát ngày 30 tháng 4/1975).
- Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch (4 tháng 9/1972 đến 6 tháng 11/1973, nhận chức tư lệnh khi còn là đại tá, nguyên lữ đoàn trưởng Nhảy Dù, thăng chuẩn tướng tháng 11/1972, chức vụ cuối cùng: chánh thanh tra cấp Quân đoàn).
- Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (7 tháng 11/1973 đến 30/4/1975, nhận chức tư lệnh khi còn mang cấp đại tá, thăng chuẩn tướng năm 1974, tự sát ngày 30 tháng 4/1975).
* Sư đoàn 5 Bộ binh tại Bình Long hè 1972:
Trong suốt 20 năm chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam phần, Sư đoàn 5 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô, và đã lập nhiều chiến công lớn. Riêng trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Sư đoàn 5 Bộ binh cùng các lực lượng Nhảy Dù, Biệt động quân, Biệt cách Nhảy Dù và các đơn vị tăng viện giữ vững phòng tuyến Phước Long. Sau đây là lược trình về sự phối trí của Sư đoàn 5 Bộ binh và các trận đụng độ đầu tiên tại tỉnh Bình Long, trước khi Cộng quân tấn công cường tập An Lộc.
Trận chiến xảy ra vào ngày 4 tháng 4/1972 khi một chi đội chiến xa tăng phái cho trung đoàn 9 BB từ biên giới rút về tăng cường cho lực lượng phòng thủ Lộc Ninh. Ngày 5/4/1972, Cộng quân bắt đầu tấn công vào bộ chỉ huy Chi khu Lộc Ninh và hậu cứ trung đoàn 9 Bộ binh đặt trong quận lỵ. Địch đã mở đầu trận tấn công bằng trận địa pháo và sau đó tung bộ binh và thiết giáp tấn công cường tập. Lực lượng trú phòng đã chống trả quyết liệt. Trưa cùng ngày, Cộng quân bị đẩy lùi khi cố đánh chiếm phi đạo.
Ngày 6 tháng 4/1972, Cộng quân mở đợt tấn công mới với sự yểm trợ của 1 tiểu đoàn chiến xa T 54 với khoảng 30 chiếc. Pháo binh VNCH tại Lộc Ninh đã phải hạ nòng bắn trực xạ vào các chiến xa CSBV đang tiến tới, nhưng do áp lực quá nặng của CQ, thị trấn Lộc Ninh vẫn bị tràn ngập. Một thành phần quân trú phòng đã vượt thoát khỏi vòng vây của địch và về đến An Lộc. Ngày 11 tháng 4/1972, An Lộc tiếp nhận 50 quân nhân đầu tiên từ Lộc Ninh vượt thoát về, ngày hôm sau, vị quận trưởng/chi khu trưởng và cố vấn trưởng chi khu Lộc Ninh về đến thị xã. Sau khi trận tấn công vào Lộc Ninh đã diễn ra, trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân đoàn 3, Quân khu 3 mới tin chắc là An Lộc sẽ trở thành mục tiêu trọng điểm của Cộng quân. Theo kế hoạch của tướng Minh, bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 5 Bộ binh cho chuẩn tướng Lê Văn Hưng chỉ huy và hai tiểu đoàn của Liên đoàn 3 Biệt động quân-Quân khu 3 được trực thăng vận vào An Lộc. Cuộc chuyển quân hoàn tất vào ngày 5 tháng 4/1972.
Trong thượng tuần tháng 4/1972, thị xã An Lộc chưa bị tấn công nhưng phi trường Quản Lợi, cách thị xã tỉnh lỵ 3 km về hướng Đông thành phố bị pháo kích và sau đó bị tấn công cường tập vào tối ngày 7 tháng 4/1972. Trận chiến diễn ra ác liệt, hai đại đội trú phòng được lệnh phá hủy hai khẩu 105 ly và triệt thoái về thị xã. Hai ngày sau, thành phần nói trên mới về đến An Lộc. Sự mất phi trường An Lộc đã làm cho tỉnh lỵ tỉnh Bình Long hoàn toàn bị cô lập vì cả hai đường giao thông không vận và đường bộ bị cắt đứt. Ngày 7 tháng 4/1972, bộ Tổng tham mưu đã điều động lữ đoàn 1 Nhảy Dù do đại tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy tăng viện cho Sư đoàn 5 Bộ binh. Lữ đoàn này di chuyển từ Lai Khê lên Chơn Thành bằng đường bộ. Từ đó, các đơn vị của lữ đoàn hành quân "dọn sạch" các cụm điểm kháng cự của Cộng quân về hướng Bắc Quốc lộ 13 về An Lộc. Vừa rời khỏi Chơn Thành 6km, lữ đoàn Nhảy Dù bị 1 trung đoàn của CT 7 CSBV chận đánh. Địch tổ chức các cụm chốt cố thủ liên hoàn tại Suối Tàu Ô. Cộng quân cố bám giữ con đường chiến lược này và cố chận các cánh quân tăng viện của lực lượng VNCH cũng như các đợt tiếp tế vào An Lộc.
Ngày 11 và 12 tháng 4/1972, trung đoàn 8/Sư đoàn 5 BB với 3 tiểu đoàn cơ hữu được trực thăng vận vào An Lộc. Quân trú phòng tại An Lộc vào lúc này là 3 ngàn quân Trước đó, sư đoàn 5 Bộ binh được bộ Tổng tham mưu tăng viện một trung đoàn Bộ binh của sư đoàn 18 Bộ binh ở miền Tây. Đó là trung đoàn 52 do trung tá Nguyễn Văn Thịnh làm trung đoàn trưởng. Trung đoàn 52 đóng ở khu vực cầu Cần Lê, sau cuộc tấn công của Cộng quân vào các ngày 6 và 7 tháng 4/1972 đã bị thiệt hại nặng. Trung đoàn 7 thuộc sư đoàn 5 do trung tá Lại Đức Quân làm trung đoàn trưởng cũng bị tổn thất trong các cuộc tấn công vào tháng 4/1972, đã được bổ sung quân số và là lực lượng trừ bị của sư đoàn 5 Bộ binh.
Tuesday, January 27, 2015
• Thiên tài Quân Sự VNCH - Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu
Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu (1929 - 1975)
48 năm trước, Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu đã từng đánh bại Tướng Võ-nguyên-Giáp trên chiến trường Pleime năm 1965. Khi đó ông (Thiên tài QSVN Nguyễn-văn-Hiếu) đang là đại tá Tham mưu trưởng Quân Đoàn II Quân Khu II Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ba bài viết bên dưới được tiết lộ bởi Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu, theo lời thuật lại của ông Nguyễn-văn-Tín (bào đệ của cố Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu) "...Mãi cho tới bây giờ anh tôi mới bật mí hoàn toàn về chiến dịch Pleime..." -ngưng trích email nhận được-
Tuesday, December 27, 2022
Thằng “Cối Minh” - Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu
Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu
Steven Lam
Viết để tưởng nhớ đến Hạ Sĩ Thái Văn Minh – Người lính dưới quyền thân thương của tôi.
(Ngôn ngữ trong đoạn hồi ký này không hàm ý quan liêu mà chỉ nói lên cái tình của những người cùng gian khổ sống chết có nhau. Nếu thay đổi cách xưng hô nó sẽ mất đi cái tình mà người viết luôn trân trọng. Mong quý độc giả lượng thứ)
Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu
Tuesday, November 18, 2014
• TƯỚNG PHAN TRỌNG CHINH ĐÃ RA ĐI VỈNH VIỂN!!
Trung Tướng Phan Trọng Chinh xuất thân nhảy dù. Tướng Chinh là một vị tướng nổi tiếng thanh liêm trong hàng ngủ QL.VNCH. Ông là đàn anh của tướng Ngô QuangTrưởng. Ông là một trong 4 tướng sạch của QL.VNCH: " nhất THẮNG, nhì CHINH, tam THANH, tứ HIẾU" (đó là:NGUYỄN ĐỨC THẮNG, NGUYỄN VIẾT THANH, NGUYỄN VĂN HIẾU ĐÃ RA ĐI TỪ LÂU, NAY ĐẾN LƯỢT PHAN TRỌNG CHINH)
Saturday, February 28, 2015
• Mặt Trận Thường Đức 1974
Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào cuối tháng 1/1973, tình hình chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu. Hai sư đoàn Tổng trừ bị (Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến) vẫn còn bị lưu giữ tại Quân Khu 1. Lấy Quốc Lộ 1 làm ranh giới, Sư Đoàn Nhảy Dù trấn giữ phía Tây, dọc theo hành lang dãy Trường Sơn, và trách nhiệm luôn phần bảo vệ an ninh Quốc Lộ 1, từ cây số 17 ra tới bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị).
Wednesday, March 8, 2023
NGƯỜI LÍNH VNCH (1) - Người VIỆT Tự Do
Đại úy Hiếu đốt điếu thuốc đưa lên đôi môi khô nước. Ông ghiền cà-phê phin thơm ngạt ngào, không đường không sữa, đắng nghét sành điệu…
Hiếu ngồi trong chiếc lều vải, cố gắng hoàn tất giấy tờ. Ông không thuộc ban Hai nên thủ tục khác với sĩ quan phụ trách tù binh kiêm hồ sơ lúc ban đầu….
Monday, August 15, 2022
Tiểu đoàn 2/43/SĐ18/BB/QLVNCH - NGUYỄN HỮU CHẾ
Sunday, July 21, 2013
• Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù
Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù
Thursday, January 16, 2014
• Biệt Động Quân - Tết Mậu-Thân Tại Sài Gòn - Vũ Đình Hiếu

Năm 1967, quân cộng sản bị tổn thất nặng sau những trận đánh lớn với quân đội VNCH và đồng-minh. Biết rằng không thể đương đầu với QLVNCH trong một trận chiến trực diện, Hà-Nội đã bí mật chuẩn bị cho một trận tấn công bất ngờ. Lợi dụng thời gian hưu chiến cho Tết Mậu- Thân 1968, quân CSBV / Việt cộng phát động chiến dịch Tổng công-kích / Tổng khởi-nghiã trên khắp miền nam Việt-Nam. Địch quân đã tấn công hoặc pháo kích vào 36 trong số 44 thành phố chính của miền nam, 5 thành phố lớn, và hầu hết các phi trường để trì hoãn các cuộc chuyển quân của QLVNCH và đồng minh.







