Showing posts sorted by relevance for query Đoàn Trọng Hiếu. Sort by date Show all posts
Showing posts sorted by relevance for query Đoàn Trọng Hiếu. Sort by date Show all posts

Tuesday, December 27, 2022

Tướng Hiếu Bị Ám Sát - Nguyễn Văn Tín (em trai tướng Hiếu)

Tướng Hiếu Bị Ám Sát

Nguyễn Văn Tín (em trai tướng Hiếu)
fb VIệt Nam Cộng Hòa Hồi Ký

Tướng Hiếu Bị Ám Sát: Sự Kiện và Giả Tưởng
Khoảng 8 giờ sáng ngày 8/4/1975, Tướng Hiếu bay trực thăng đến Gò Dầu Hạ họp bàn chiến sự với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III. Vào thời điểm này xảy ra vụ oanh tạc Dinh Độc Lập. 

Sunday, July 2, 2023

Giải vây Đồi 46 - Căn cứ Alpha = BĐQ Đoàn Trọng Hiếu

Giải vây Đồi 46 - Căn cứ Alpha
BĐQ Đoàn Trọng Hiếu - fb Son H Cao

Sau khi lệnh được truyền ra đến từng xa đội, cũng như đến các trung đội, mọi binh sĩ đều sẵn sàng, tôi báo cho đại úy Đức biết để ra hiệu lệnh tấn công
Đồi 46 căn cứ Alpha hay còn gọi là ngọn đồi máu có lẽ vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm của các chiến sĩ hai Liên Đoàn 3 và Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân,.. 
 ---------------------

Saturday, October 31, 2015

• Danh Sách Tữ Sĩ KQ/VNCH

Danh Sách Tữ Sĩ KQ/VNCH
HỘI ÁI HỮU KHÔNG QUÂN VNCH TRUNG CALIFORNIA


Tên Họ cấp bậc số quân Đơn vị ngày tử Chiến trường
Phi đoàn 243 Mãnh sư
1 Nguyễn văn Thân( Phi đoàn trưởng ) Tr/tá Phi đoàn 243 Mãnh sư 25/51973 Bà di
2 Châu văn Áu Tr/úy Phi đoàn 243 Mãnh sư 17/5/1974 Phù cát
3 Nguyễn Hùng K26TD Đ/úy Phi đoàn 243 Mãnh sư 1973 Phù cát

Sunday, April 13, 2014

• Thượng Đức : Trận đánh đầu tiên

Thượng Đức : Trận đánh đầu tiên

Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản mới đây mà đã 30 năm. Đối với lịch sử, 30 năm không là gì cả, nhưng đối với một đời người, 30 năm là một quảng thời gia quan trọng, nó dài hơn một phần ba cuộc đời, nhất là khi đó là một phần ba cuối đời!

Cách đây 10 hay 15 năm về trước, một số chính khách miền Nam lưu vong vẫn còn nuôi mộng trở lại nắm một địa vị hay một chức vụ nào đó trên quê hương, trong đó có cả cựu Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng lịch sử chẳng chờ ai. Thay vì quay trở lại quê hương, họ đã lần lượt đi vào lòng đất!


Saturday, September 7, 2013

• Sư Đoàn 22 BB ở Chiến Trường Dakto-tân Cảnh, Kontum Hè 72 Tổng lược về chiến sử của Sư đoàn 22 Bộ binh:

Sư Đoàn 22 BB ở Chiến Trường Dakto-tân Cảnh, Kontum Hè 72

Tổng lược về chiến sử của Sư đoàn 22 Bộ binh:
Sinh Tồn chuyển

http://omphalos.com.au/vnchlogos/logo_sd22.jpg
Sư đoàn 22 Bộ binh có danh hiệu nguyên thủy là Sư đoàn Khinh chiến số 4 được thành lập ngày 1/5/1955 với ba trung đoàn tiên khởi: trung đoàn Bộ binh 401 (gồm tiểu đoàn 73, 90, 91), trung đoàn Bộ binh số 402 (gồm 3 tiểu đoàn 1, 94 và 95), trung đoàn Bộ binh 403 (tiểu đoàn 31, 92, 93). Đến tháng 10/1955, Sư đoàn được cải danh thành Sư đoàn Khinh chiến số 14, các trung đoàn và tiểu đoàn cũng được cải danh như sau: trung đoàn Bộ binh số 401 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 40 (các tiểu đoàn: 90 cải danh thành 1/40, tiểu đoàn 91 thành 2/40, tiểu đoàn 73 thành 3/40); trung đoàn Bộ binh 402 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 41 (các tiểu đoàn: 91 thành 1/41, 95 đổi thành 2/41, tiểu đoàn 1 cải danh là 3/41); trung đoàn Bộ binh số 402 cải danh thành trung đoàn 42 (các tiểu đoàn :92 thành 1/42, 93 thành 2/42, tiểu đoàn 31 thành 3/42.


Đầu năm 1959, theo cải tổ của Bộ Tổng Tham Mưu, các sư đoàn Khinh chiến 12, 13, và 16 bị giải tán. Các sư đoàn 11, 14, 15 được thâu nhận một phần lớn quân số của các sư đoàn giải tán để cải tổ thành các sư đoàn Bộ binh. Theo đó, sư đoàn Khinh chiến số 14 được cải danh thành Sư đoàn 22 Bộ binh với ba trung đoàn cơ hữu cải danh: trung đoàn Bộ binh số 40, số 41, số 42 thành trung đoàn Bộ binh 40, 41, 42. Sau này, do tình hình chiến trường, Sư đoàn 22 Bộ binh có thêm trung đoàn thứ 4, đó là trung đoàn 47 Bộ binh. Từ năm 1970, khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 22 Bộ binh bao gồm các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Kontum, Pleiku.

* Sơ lược về quân vụ của 9 vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh:
Từ khi cải danh từ Sư đoàn Khinh chiến thành Sư đoàn Bộ binh, Sư đoàn 22BB đã được được chỉ huy bởi 9 vị tư lệnh qua 11 thời kỳ (có hai vị hai lần giữ chức vụ này). Tư lệnh thứ 1 sau khi cải danh: trung tá Trần Thanh Chiêu (1/4/1959 đến 2/9/1959; vào thời gian 1962-1963, trung tá Chiêu là Thanh tra Dân vệ đoàn (Nghĩa quân), ông chỉ được thăng đến đại tá, mất tích vào tháng 4/1972); tư lệnh thứ 2: trung tá Nguyễn Bảo Trị (từ 3/9/1959 đến 4/11/1963; được thăng đại tá trong thời gian giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn này; thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3 vào đầu tháng 10/1965, thăng thiếu tướng vào cuối tháng 10/1965; tháng 6/1966: tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, sau đó giữ chức Tổng trưởng Thông tin Chiêu Hồi; thăng trung tướng vào cuối tháng 10/1967; chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Chỉ huy Tham mưu); tư lệnh thứ ba: đại tá Nguyễn Thanh Sằng (từ 5 tháng 11/1963 đến 4 tháng 2/1964, thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi đang phục vụ tại Vùng 1 chiến thuật; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn 4 (1972-1973), giải ngũ trước 30 tháng 4/1975.

Từ tháng 2/1964 đến tháng 4/1975, các đại tá và tướng lãnh sau đây đã chỉ huy Sư đoàn 22 Bộ binh: thiếu tướng Linh Quang Viên (từ 5 tháng 2/1964 đến 6/9/1964, rời Sư đoàn 22 Bộ binh, tướng Linh Quang Viên có thời gian giữ chức vụ tham mưu trưởng Liên quân từ 1965 đến 1966, thăng trung trướng vào cuối tháng 10/1967 và giữ chức Tổng trưởng Nội vụ trong nội các Nguyễn Văn Lộc, chức vụ cuối cùng: Chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang, giải ngũ vào tháng 3/1974); đại tá Nguyễn Văn Hiếu (từ 7 tháng 9/1964 đến 23/10/1964; đại tá Hiếu trở lại làm tư lệnh Sư đoàn 22 BB vào tháng 6/1966 và thăng chuẩn tướng vào năm 1967, đến tháng 8/1969, giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thăng thiếu tướng 1970, chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào hạ tuần tháng 4/1975);

Thứ 6: chuẩn tướng Nguyễn Xuân Thịnh (từ 24 tháng 10/1964 đến 1/3/1965, đại tá Thịnh được thăng cấp tướng khi vừa được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22, thăng thiếu tướng tháng 6/1968 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 25 BB, thăng trung tướng cuối năm 1971 và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh QL/VNCH vào đầu năm 1972); thứ 7: chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng (giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22BB lần thứ 2 từ 1/3/1965 đến 22/6/1966); thứ 8: chuẩn tướng Nguyễn Văn Hiếu (giữ chức tư lệnh lần thứ hai, từ 23/6/1966 đến 10/8/1969); thứ 9: Chuẩn tướng Lê Ngọc Triễn (từ 11 tháng 8/1969 đến cuối tháng 2/1972, thăng chuẩn tướng vào giữa năm 1970, đầu tháng 3/1972, được bổ nhiệm giữ chức tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu); thứ 10: đại tá Lê Đức Đạt (từ 1 tháng 3/1972 đến ngày 24/4/1972; trước khi giữ chức tư lệnh thay thế tướng Triễn, đại tá Đạt là tư lệnh phó Sư đoàn này, được ghi nhận là mất tích khi Cộng quân tấn công Tân Cảnh); tư lệnh cuối cùng: chuẩn tướng Phan Đình Niệm (từ 28 tháng 4/1972 đến 30/4/1972), tướng Niệm được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi ông đang là đại tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, được thăng chuẩn tướng cuối tháng 10/1972; ông đã có một thời gian đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong Bộ binh: tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh phó Sư đoàn.

* Sư đoàn 22 Bộ binh tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto mùa hè 1972:
Từ năm 1959 đến 1972, Sư đoàn 22 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô trong khu vực trách nhiệm, và đã lập nhiều chiến công, riêng trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Sư đoàn này đã trải qua một giai đoạn đầy bi tráng tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto. Toàn cảnh về trận chiến này được ghi nhận tổng lược như sau, dựa theo tài liệu của cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2:

Trong tháng 3/1972, những tin tức tình báo ghi nhận về sự tăng cường lực lượng của Cộng quân ở khu vực Kontum đã làm cho trung tướng Ngô Du-Tư lệnh Quân đoàn 2 lo lắng. Dựa trên những báo cáo của Phòng 2 Quân đoàn và sau khi hội ý với cố vấn trưởng Quân đoàn là ông John P. Vann, trung tướng Ngô Du đã cho tái phối trí lực lượng để bảo vệ mặt Bắc Kontum. Theo đó, bộ tư lệnh Tiền Phương Sư đoàn 22 Bộ binh cùng trung đoàn 47, một thành phần Tiếp vận quan trọng của Sư đoàn từ bản doanh chính tại Bình Định di chuyển đến Tân Cảnh-Dakto. Tại cụm phòng tuyến này, bộ tư lệnh hành quân của Sư đoàn đặt chung với bộ chỉ huy Hành quân của Trung đoàn 42 Bộ binh đã hoạt động tại đây từ trước. Về lực lượng Thiết giáp, ngoài thiết đoàn cơ hửu, Sư đoàn 22 Bộ binh được Quân đoàn 2 tăng cường 1 chi đoàn của thiết đoàn 19 thuộc Lữ đoàn 2 Kỵ Binh.

Hỗ tương phòng thủ cùng với Sư đoàn 22 Bộ binh là lữ đoàn 2 Nhảy Dù do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy. Lữ đoàn này phòng thủ các căn cứ Delta và Charlie ở dãy đồi phía Tây sông Polco. (Vào 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4/1972, sư đoàn 320 CSBV đã tấn công cường tập căn cứ Delta, nhưng địch quân đã bị đẩy lùi. Tiếp đến ngày 14 tháng 4/1972, Cộng quân lại mở cuộc tấn công vào căn cứ Charlie, trung tá Nguyễn Đình Bảo, chỉ huy tiểu đoàn 11 Nhảy Dù phòng ngự căn cứ này đã bị tử thương do trúng một quả hỏa tiễn 122 ly. Chi tiết về hai trận tấn công này sẽ được trình bày trong bài viết về lữ đoàn 2 Nhảy Dù).
Ngày 20 tháng 4/1972, tình hình tại mặt trận Quảng Trị ở Quân khu 1 quá nặng, bộ Tổng tham mưu quyết định điều động lữ đoàn 2 Nhảy Dù tăng cường cho giới tuyến. Tướng 3 sao CSBV là Hoàng Minh Thảo, tư lệnh B3 (Cộng quân tại Cao nguyên) thấy lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên đã cho tiến hành kế hoạch tấn công cấp tốc để “dứt điểm” Sư đoàn 22 Bộ binh. Lực lượng chính mà B 3 sử dụng để tấn công Sư đoàn 22 BB là sư đoàn 320 và sư đoàn 2 Sao Vàng với thành phần phụ lực là một lữ đoàn chiến xa. Các đơn vị Cộng quân đều có phân đội trang bị hỏa tiển Sagger (các sĩ quan tình báo chiến trường của VNCH gọi là AT 3), loại hỏa tiển chống chiến xa có tầm tác xạ hữu hiệu tối đa là 2 ngàn mét.

Từ ngày 20 đến 22/4/1972, các sư đoàn CSBV áp sát vòng đai Tân Cảnh. Trước tình hình mới, đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, sau khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của địch đã xuất hiện, đã trình với trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2- xin tiến hành ngay kế hoạch tiêu diệt địch bằng B 52 mà trước đây tướng Du và cố vấn Paul Vann đã tính toán. Điều bất ngờ là ông Paul Vann đã từ chối đề nghị của Quân đoàn 2 sử dụng B 52 để “dọn sạch” đối phương, nguyên nhân là ông Paul Vann không muốn yểm trợ cho đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22. Trước thái độ của ông Paul Vann, trung tướng Ngô Du tức giận la lớn: Ông Paul Vann, ông là bạn hay kẻ thù của tôi. Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông bay trực thăng xuống mặt trận Bắc Bình Định. Tư lệnh chiến trường này là đại tá Trần Hiếu Đức, trung đoàn trưởng trung đoàn 40/Sư đoàn 22 Bộ binh. Đại tá Đức chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ lực lượng bộ chiến hoạt động trong ba quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan.

Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 22 đã giao tranh với địch tại một vị trí gần bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn. Cũng trong ngày này, Cộng quân pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hỏa tiễn 122 ly. Lực lượng chiến xa bảo vệ bộ Tư lệnh lúc bấy giờ chỉ có 10 chiếc, được điều động dàn đội hình ngăn chận địch, đã bị hỏa tiễn Sagger của Cộng quân bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Một sĩ quan cấp thiếu tá tên là Như cùng một cố vấn Hoa Kỳ là đại úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, sử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai sĩ quan Việt-Mỹ này chết tại chỗ.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, quân trú phòng tại quận này quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T 54 tiến về hướng quận. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Sư đoàn 22 Bộ binh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động C 130 Spectre lên thả trái sáng. Trong khi đó, các chiến binh thuộc thành phần phòng ngự vòng đai bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn, từ các hầm chiến đấu cá nhân, thấy 15 chiến xa T 54 khác của địch chạy về Tân Cảnh. Phi cơ C 130 Spectre tác xạ để ngăn chận chiến xa địch, nhưng không có hiệu quả vì loại phi cơ này không có đạn chống chiến xa. Tình hình chiến sự tại Tân Cảnh đã bước vào những giờ phút quyết định của cuộc chiến.
Sinh Tồn chuyển

Sunday, August 27, 2023

Trận Đánh Trại Lực Lượng Đặc Biệt Pleime 1965 (fb Sài Gòn trong tôi)

 Trận Đánh Trại Lực Lượng Đặc Biệt Pleime 1965
Một Thời Binh Lửa
fb Sài Gòn trong tôi

Trại LLĐB Pleime là một tiền đồn hẻo lánh cách biên giới Cam Bốt khoảng 40 cây số, cách Quốc Lộ 14, 20 cây số về phía Tây và cách Pleiku khoảng 40 cây số về hướng Đông Nam. 
 ----------------

Saturday, September 7, 2013

• Sư Đoàn 5 BB ở Chiến Trường An Lộc, Bình Long, Hè 1972

Sư Đoàn 5 BB ở Chiến Trường An Lộc, Bình Long, Hè 1972 

Sinh Tồn chuyển


Thành lập ngày 10 tháng 2/1955 theo ND số 040 QP/ND với danh hiệu đầu tiên là Sư đoàn 6 Bộ binh. Tiền thân của Sư đoàn là lực lượng Nùng được thành lập tại Bắc Việt trước 1954. Đến ngày 1 tháng 7/1955, Sư đoàn được đổi tên là Sư đoàn Dã chiến số 41 với 3 trung đoàn: trung đoàn Bộ binh số 34 (các tiểu đoàn 57, 86, 87), trung đoàn Bộ binh số 35 (tiểu đoàn số 72, 75, 88), trung đoàn Bộ binh số 36 (tiểu đoàn 32, 72, 89). Ngày 17 tháng 9/1955, theo SVVT số 3975/TTM/1/1/SC, sư đoàn được cải danh thành sư đoàn Dã chiến số 3. Theo kế hoạch về quân số, hơn 2/3 quân nhân người Việt sắc tộc Nùng của Sư đoàn từ miền Bắc vào được phân bố cho các sư đoàn khác, đồng thời sư đoàn được bổ sung binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan từ các liên đoàn chiến thuật. Về danh hiệu đơn vị cơ hữu, các trung đoàn cải danh như sau: trung đoàn Bộ binh số 34 thành trung đoàn Bộ binh số 7, trung đoàn Bộ binh số 35 thành trung đoàn Bộ binh số 8, trung đoàn Bộ binh số 36 thành trung đoàn Bộ binh số 9. Cuối năm 1958, theo kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu, Sư đoàn dã chiến số 3 đổi thành Sư đoàn 5 Bộ binh, các trung đoàn Bộ binh số 7, số 8, số 9 đổi thành trung đoàn 7,8,9 Bộ binh.

* Lược trình về quân vụ của 17 vị tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh:
Tư lệnh đầu tiên của sư đoàn là đại tá Vòng A Sáng, người đã sáng lập lực lượng Nùng tại Bắc Việt. Đại tá Sáng chỉ huy sư đoàn đến 24/10/1955 thì bàn giao chức vụ cho đại tá Phạm Văn Đổng. Từ 25 tháng 6/1955 đến 30 tháng 4/1975, Sư đoàn được chỉ huy bởi 16 vị tư lệnh sau đây:

- Đại tá Phạm Văn Đổng (25/10/1956 đến 17 tháng 3/1958; đại tá Đổng thăng chuẩn tướng tháng 5/1964, thăng thiếu tướng 1965, và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: tư lệnh Biệt khu Thu đô, Tổng trưởng Cựu chiến binh).

- Trung tá Nguyễn Quang Thông (18/3/1958 đến 15/9/1958, chỉ được thăng đến đại tá)

- Đại tá Tôn Thất Xứng (16/9/1958 đến 18/11/1958, thăng thiếu tướng tháng 2/1964, khi vừa được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn 1 & Vùng 1 chiến thuật, chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự- sau này là trường Chỉ huy Tham mưu-từ tháng 11/1964 đến năm 1966).

- Trung tá Đặng Văn Sơn (19 tháng 11/1958 đến 2 tháng 8/1959, chỉ thăng đến đại tá)

- Đại tá Nguyễn Văn Chuân (3 tháng 8/1959 đến 19/5/1961, thăng chuẩn tướng tháng 11/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, thăng thiếu tướng tháng 11/1965, tháng 3/1966 giữ chức tư lệnh Quân đoàn 1, tháng 4/1966 giữ chức tổng cục trưởng Quân Huấn, giải ngũ vào giữa năm 1966, cựu thượng nghị sĩ).

- Thiếu tướng Trần Ngọc Tám (20/5/1961 đến 15/10/1961, thăng trung tướng tháng 3/1964 khi giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3/Vùng 3; tháng 9/1964, tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân, giữa năm 1965, giữ chức chủ tịch Ủy ban điều hành Quốc tế Quân viện)

- Đại tá Nguyễn Đức Thắng (16 tháng 10/1961 đến 19/12/1962, thăng chuẩn tướng tháng 8/1964 khi đang giữ chức trưởng phòng 3 Bộ Tổng tham mưu, thăng thiếu tướng tháng 11/1965 và được cử giữ chức Tổng ủy viên (tổng trưởng) Xây dựng Nông Thôn; thăng trung tướng vào tháng 5/1968 khi đang giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4 & Vùng 4 chiến thuật, chức vụ cuối cùng: phụ tá Kế hoạch Tổng tham mưu trưởng.

- Đại tá Nguyễn Văn Thiệu (20 tháng 12/1962 đến 1 tháng 2/1964, thăng thiếu tướng ngày 2 tháng 11/1963; tháng 2/1964 giữ chức Tham mưu trưởng Liên quân; tháng 9/1964, giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4, thăng trung tướng tháng 12/1964; tháng 2/1965 đến tháng 6/1965, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng của nội các Phan Huy Quát; 19/6/1965 đến 30/101/1967: chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia; 31/10/1967: Tổng thống VNCH).

- Thiếu tướng Đặng Thành Liêm (2/2/1964 đến 5 tháng 6/1964, giải ngũ vào năm 1965).

- Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn (5 tháng 6/1964 đến 20/10/1964, thăng thiếu tướng 1967, thăng trung tướng 1971, chức vụ cuối cùng: phụ tá thủ tướng, trung tâm trưởng trung tâm Điều hợp về Bình Định & Xây dựng Nông thôn).

- Chuẩn tướng Trần Thanh Phong (từ 21 tháng 10/1964 đến 18/7/1965, thăng thiếu tướng 11/1967, từng giữ các chức vụ quan trọng: tổng trưởng Xây dựng nông thôn, tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, tử nạn do phi cơ rớt vào năm 1972 khi làm phụ tá cho trung tướng Cao Hảo Hớn).

- Thiếu tướng Phạm Quốc Thuần (từ 19 tháng 7/1965 đến 14/8/1969, nhận chức tư lệnh khi còn là đại tá, thăng chuẩn tướng tháng 6/1966, thăng thiếu tướng tháng 6/1968; thăng trung tướng 1972; các chức vụ kế tiếp: từ tháng 8/1969 đến tháng 11/1973, chỉ huy trưởng trường Bộ binh; tư lệnh Quân đoàn 3; từ tháng 11/1974: chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan QL/VNCH).

- Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu (từ ngày 15/10/1969 đến 13 tháng 6/1971, nhận chức tư lệnh khi còn chuẩn tướng, thăng thiếu tướng tháng 6/1970; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào cuối tháng 4/1975).

- Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (14 tháng 6/1971 đến 3 tháng 9/1972, nhận chức tư lệnh khi còn đại tá, thăng chuẩn tướng năm 1972, các chức vụ kế tiếp: tư lệnh phó Quân khu 3, tư lệnh Sư đoàn 21 BB, tư lệnh phó Quân đoàn 4-tự sát ngày 30 tháng 4/1975).

- Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch (4 tháng 9/1972 đến 6 tháng 11/1973, nhận chức tư lệnh khi còn là đại tá, nguyên lữ đoàn trưởng Nhảy Dù, thăng chuẩn tướng tháng 11/1972, chức vụ cuối cùng: chánh thanh tra cấp Quân đoàn).

- Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (7 tháng 11/1973 đến 30/4/1975, nhận chức tư lệnh khi còn mang cấp đại tá, thăng chuẩn tướng năm 1974, tự sát ngày 30 tháng 4/1975).

* Sư đoàn 5 Bộ binh tại Bình Long hè 1972:
Trong suốt 20 năm chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam phần, Sư đoàn 5 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô, và đã lập nhiều chiến công lớn. Riêng trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Sư đoàn 5 Bộ binh cùng các lực lượng Nhảy Dù, Biệt động quân, Biệt cách Nhảy Dù và các đơn vị tăng viện giữ vững phòng tuyến Phước Long. Sau đây là lược trình về sự phối trí của Sư đoàn 5 Bộ binh và các trận đụng độ đầu tiên tại tỉnh Bình Long, trước khi Cộng quân tấn công cường tập An Lộc.

Trận chiến xảy ra vào ngày 4 tháng 4/1972 khi một chi đội chiến xa tăng phái cho trung đoàn 9 BB từ biên giới rút về tăng cường cho lực lượng phòng thủ Lộc Ninh. Ngày 5/4/1972, Cộng quân bắt đầu tấn công vào bộ chỉ huy Chi khu Lộc Ninh và hậu cứ trung đoàn 9 Bộ binh đặt trong quận lỵ. Địch đã mở đầu trận tấn công bằng trận địa pháo và sau đó tung bộ binh và thiết giáp tấn công cường tập. Lực lượng trú phòng đã chống trả quyết liệt. Trưa cùng ngày, Cộng quân bị đẩy lùi khi cố đánh chiếm phi đạo.

Ngày 6 tháng 4/1972, Cộng quân mở đợt tấn công mới với sự yểm trợ của 1 tiểu đoàn chiến xa T 54 với khoảng 30 chiếc. Pháo binh VNCH tại Lộc Ninh đã phải hạ nòng bắn trực xạ vào các chiến xa CSBV đang tiến tới, nhưng do áp lực quá nặng của CQ, thị trấn Lộc Ninh vẫn bị tràn ngập. Một thành phần quân trú phòng đã vượt thoát khỏi vòng vây của địch và về đến An Lộc. Ngày 11 tháng 4/1972, An Lộc tiếp nhận 50 quân nhân đầu tiên từ Lộc Ninh vượt thoát về, ngày hôm sau, vị quận trưởng/chi khu trưởng và cố vấn trưởng chi khu Lộc Ninh về đến thị xã. Sau khi trận tấn công vào Lộc Ninh đã diễn ra, trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân đoàn 3, Quân khu 3 mới tin chắc là An Lộc sẽ trở thành mục tiêu trọng điểm của Cộng quân. Theo kế hoạch của tướng Minh, bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 5 Bộ binh cho chuẩn tướng Lê Văn Hưng chỉ huy và hai tiểu đoàn của Liên đoàn 3 Biệt động quân-Quân khu 3 được trực thăng vận vào An Lộc. Cuộc chuyển quân hoàn tất vào ngày 5 tháng 4/1972.

Trong thượng tuần tháng 4/1972, thị xã An Lộc chưa bị tấn công nhưng phi trường Quản Lợi, cách thị xã tỉnh lỵ 3 km về hướng Đông thành phố bị pháo kích và sau đó bị tấn công cường tập vào tối ngày 7 tháng 4/1972. Trận chiến diễn ra ác liệt, hai đại đội trú phòng được lệnh phá hủy hai khẩu 105 ly và triệt thoái về thị xã. Hai ngày sau, thành phần nói trên mới về đến An Lộc. Sự mất phi trường An Lộc đã làm cho tỉnh lỵ tỉnh Bình Long hoàn toàn bị cô lập vì cả hai đường giao thông không vận và đường bộ bị cắt đứt. Ngày 7 tháng 4/1972, bộ Tổng tham mưu đã điều động lữ đoàn 1 Nhảy Dù do đại tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy tăng viện cho Sư đoàn 5 Bộ binh. Lữ đoàn này di chuyển từ Lai Khê lên Chơn Thành bằng đường bộ. Từ đó, các đơn vị của lữ đoàn hành quân "dọn sạch" các cụm điểm kháng cự của Cộng quân về hướng Bắc Quốc lộ 13 về An Lộc. Vừa rời khỏi Chơn Thành 6km, lữ đoàn Nhảy Dù bị 1 trung đoàn của CT 7 CSBV chận đánh. Địch tổ chức các cụm chốt cố thủ liên hoàn tại Suối Tàu Ô. Cộng quân cố bám giữ con đường chiến lược này và cố chận các cánh quân tăng viện của lực lượng VNCH cũng như các đợt tiếp tế vào An Lộc.

Ngày 11 và 12 tháng 4/1972, trung đoàn 8/Sư đoàn 5 BB với 3 tiểu đoàn cơ hữu được trực thăng vận vào An Lộc. Quân trú phòng tại An Lộc vào lúc này là 3 ngàn quân Trước đó, sư đoàn 5 Bộ binh được bộ Tổng tham mưu tăng viện một trung đoàn Bộ binh của sư đoàn 18 Bộ binh ở miền Tây. Đó là trung đoàn 52 do trung tá Nguyễn Văn Thịnh làm trung đoàn trưởng. Trung đoàn 52 đóng ở khu vực cầu Cần Lê, sau cuộc tấn công của Cộng quân vào các ngày 6 và 7 tháng 4/1972 đã bị thiệt hại nặng. Trung đoàn 7 thuộc sư đoàn 5 do trung tá Lại Đức Quân làm trung đoàn trưởng cũng bị tổn thất trong các cuộc tấn công vào tháng 4/1972, đã được bổ sung quân số và là lực lượng trừ bị của sư đoàn 5 Bộ binh. 

Tuesday, January 27, 2015

• Thiên tài Quân Sự VNCH - Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu



Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu (1929 - 1975)


48 năm trước, Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu đã từng đánh bại Tướng Võ-nguyên-Giáp trên chiến trường Pleime năm 1965. Khi đó ông (Thiên tài QSVN Nguyễn-văn-Hiếu) đang là đại tá Tham mưu trưởng Quân Đoàn II Quân Khu II Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ba bài viết bên dưới được tiết lộ bởi Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu, theo lời thuật lại của ông Nguyễn-văn-Tín (bào đệ của cố Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu) "...Mãi cho tới bây giờ anh tôi mới bật mí hoàn toàn về chiến dịch Pleime..." -ngưng trích email nhận được-

Tuesday, December 27, 2022

Thằng “Cối Minh” - Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu

Thằng “Cối Minh”
Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu
Steven Lam

Viết để tưởng nhớ đến Hạ Sĩ Thái Văn Minh – Người lính dưới quyền thân thương của tôi.
(Ngôn ngữ trong đoạn hồi ký này không hàm ý quan liêu mà chỉ nói lên cái tình của những người cùng gian khổ sống chết có nhau. Nếu thay đổi cách xưng hô nó sẽ mất đi cái tình mà người viết luôn trân trọng. Mong quý độc giả lượng thứ)
Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu

Tuesday, November 18, 2014

• TƯỚNG PHAN TRỌNG CHINH ĐÃ RA ĐI VỈNH VIỂN!!


vào ngày thứ hai 17.11.2014 tại Vienna, Virgina. Thành thật chia buồn cùng tang quyến Trung Tướng.

Trung Tướng Phan Trọng Chinh xuất thân nhảy dù. Tướng Chinh là một vị tướng nổi tiếng thanh liêm trong hàng ngủ QL.VNCH. Ông là đàn anh của tướng Ngô QuangTrưởng. Ông là một trong 4 tướng sạch của QL.VNCH: " nhất THẮNG, nhì CHINH, tam THANH, tứ HIẾU" (đó là:NGUYỄN ĐỨC THẮNG, NGUYỄN VIẾT THANH, NGUYỄN VĂN HIẾU ĐÃ RA ĐI TỪ LÂU, NAY ĐẾN LƯỢT PHAN TRỌNG CHINH)

Saturday, February 28, 2015

• Mặt Trận Thường Đức 1974

(Từ ngày 18/8 đến ngày 8/11/1974 )
(Tài liệu lịch sử nầy sẽ được Gia Đình Mũ Đỏ xuất bản nay mai tại Hoa Kỳ)

Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào cuối tháng 1/1973, tình hình chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu. Hai sư đoàn Tổng trừ bị (Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến) vẫn còn bị lưu giữ tại Quân Khu 1. Lấy Quốc Lộ 1 làm ranh giới, Sư Đoàn Nhảy Dù trấn giữ phía Tây, dọc theo hành lang dãy Trường Sơn, và trách nhiệm luôn phần bảo vệ an ninh Quốc Lộ 1, từ cây số 17 ra tới bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị). 

Wednesday, March 8, 2023

NGƯỜI LÍNH VNCH (1) - Người VIỆT Tự Do

NGƯỜI LÍNH VNCH (1)

Người VIỆT Tự Do
Anka Pham

Đại úy Hiếu đốt điếu thuốc đưa lên đôi môi khô nước. Ông ghiền cà-phê phin thơm ngạt ngào, không đường không sữa, đắng nghét sành điệu…

Hiếu ngồi trong chiếc lều vải, cố gắng hoàn tất giấy tờ. Ông không thuộc ban Hai nên thủ tục khác với sĩ quan phụ trách tù binh kiêm hồ sơ lúc ban đầu….

Sunday, July 21, 2013

• Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù

Tiểu Sử Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù



 

TĐ6ND được thành lập ngày 1/5/1954 tại Hà Nội. Là đơn vị Nhảy Dù VN sau cùng do người Pháp chủ trương thành lập và là đơn vị Nhảy Dù đầu tiên với thành phần quân nhân hoàn toàn Việt Nam (nhiều nhất là người Khmer Krọm Nam Kỳ) được lựa chọn kỷ lưởng từ TÐ19 Khinh Quân tại Cà Mau. Tiểu Đoàn gồm Bộ Chỉ Huy, Đại Đội Trợ chiến và 4 Đại Đội tác chiến.

Thiếu Tá Đổ Cao Trí là vị Tiểu Đoàn Trưởng của TĐ19 Khinh Quân được chuyển qua làm Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù. Khi Thiếu Tá Trí lên làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù ngày 29/9/1954 thì Đại Úy Thạch Con TĐP được chỉ định thay thế chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù thành hình trước khi Điện Biên Phủ thất thủ có 7 ngày vì vậy TĐ6ND chưa tham gia trận đánh nào trước ngày hiệp định Geneva được ký kết giữa các phe phái. Ngay sau đó một thời gian ngắn toàn bộ Tiểu Đoàn được di chuyển vào Nam và đóng tại Tân Sơn Nhì Gia Định và hoạt động trong khuôn khổ của Vietnamese GAP 3.

Những trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ6ND :
- Ngày 1/5/1954 được thành lập tại Hà Nội. Và sau một thời gian ngắn di chuyển vào Sài Gòn

- Ngày 21/9/1955 do Đại Úy Nguyễn Văn Viên chỉ huy tham gia chiến dịch Hoàng Diệu tảo thanh lực lượng Bình Xuyên ở rừng Sác đến 24/10/1955.

- Ngày 5/11/1955 Khi kết thúc cuộc hành quân tiểu trừ tàn quân Bình Xuyên tại Sài Gòn - Chợ Lớn và Rừng Sác Sài Gòn, TĐ6ND và các đơn vị Nhảy Dù lại được điều động hành quân tại Núi Bà Ðen Tây Ninh để càn quét các lực lượng Cao Ðài ly khai.

- Ngày 26/11/1955 TĐ6ND và TĐ3ND tăng phái cho Sư Đoàn 11 khinh chiến trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng ở miền Tây truy lùng lực lượng của Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt (gồm 2 Trung Đoàn Lê-Quang và Trung Đoàn Nguyển Huệ) ở vùng Cái Dầu từ ấp Thanh Lợi đến xóm Láng.

- Ngày 12/12/1959 TĐ6ND cùng TĐ5ND hành quân vào Chiến Khu D để chận đánh địch quân trên đường rút lui vào Chiến Khu, sau khi chúng tấn công một Căn Cứ Trung Đoàn 10/SĐ7 Bộ Binh, thu hồi lại được số vũ khí và quân trang quân dụng bị địch chiếm đoạt.

- Ngày 1/11/1963 TĐ6ND (Thiếu Tá Lê Văn Đặng làm TĐT) do Đại Úy Vũ Thế Quang (một Đại Đội Trưởng) điều động từ Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp tại Bà Rịa về Sài Gòn tham gia cách mạng lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

- Ngày 9/2/1965 từng đoàn trực thăng HU-1B đã bay rợp trời đến bốc Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù (Thiếu Tá Vũ Thế Quang TĐT) và TĐ5ND (Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng TĐT) tại khu vực Trường Truyền Tin đưa vào vùng hành quân Hác Dịch để truy lùng hai Trung Đoàn Q761 Q762 của Cộng Quân.

- Ngày 1/11/1965 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Minh làm TĐT được không vận đến Trại LLĐB Đức Cơ cùng với Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Trương Quang Ân chỉ huy để tiếp ứng cho các Lữ Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ trong chiến dịch Ia Drang.

- Tháng 9/1965 TĐ5 cùng TĐ6 (Chiến Đoàn 2) tham gia hành quân hổn hợp với Lữ Đoàn 173 ND Mỹ trong trận Bến Cát.

- Ngày 18/1/1966 Không vận bằng C130 đến Qui Nhơn tham dự cuộc hành quân Thần Phong 11 Bồng Sơn, Tam Quan. Ngày 28/1 cùng TĐ5ND chạm địch dữ-dội khi tấn công vào làng Gia Hựu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Minh TĐT bị thương phải di tản.

- Ngày 31/1/1968 Khi Cộng quân tấn công vào Sài Gòn trong trận chiến Tết Mậu Thân Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù phối hợp với TĐ 8 Nhảy Dù đã hiện diện để bảo vệ Thủ Đô và thanh toán các đơn vị CS trong vùng cổng số 4 Bộ TTM và Trường Sinh Ngữ Quân Đội..

- Ngày 1/4/1968 TĐ6ND do Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước làm TĐT đã được điều động cùng chiến đoàn 3 ND do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy trong cuộc Hành quân Lam Sơn 207 A (Pegasus) giải vây căn cứ Khe Sanh.(TĐ3, 6, 8 Nhảy Dù)

- Ngày 19/4/1968 sau cuộc hành quân giải tỏa căn cứ Khe Sanh TĐ6ND lại được không vận về Huế để tham dự Hành quân Lam Sơn 216 (Delaware) tái chiếm Thung Lủng A-Shau.(LĐ3ND (TĐ3, 6, 8 ND)

- Ngày 1/5/1969 tại Bến Cồ Nổi Tây Ninh, TĐ6ND đã giao tranh dữ dội với 2 Trung Đoàn Công Quân. TĐ3ND được BCH/LĐ1ND điều động tới tiếp viện và ngày 19/5 lại giao tranh tiếp diển, 2 Trung đoàn 271 và 272 Cộng quân đã bị thiệt hại nặng gân như tan rã.

- Ngày 6/5/1970, trong cuộc Hành quân Toàn Thắng 43 bình Tây, TÐ6ND do Trung Tá Trương Vĩnh Phước làm Tiểu Đoàn Trưởng được thả vào vị trí phía Đông Bắc của căn cứ East I (TÐ3ND). TĐ6ND đã tung các Đại Đội tảo thanh quanh vị trí đóng quân của Tiểu đoàn và đã khám phá một hầm vũ khí toàn súng CKC còn mới nguyên trong bọc nhựa, cùng nhiều loại vũ khí khác và thuốc men. 4 chiếc trực thăng H34 chở liên tiếp mấy ngày chưa hết.

- Bắt đầu ngày 8/2/1971 TĐ6ND đã tham gia cuộc Hành Quân Hạ Lào Lam Sơn 719 đến ngày 6/4/1972. Tiểu đoàn 6ND chia thành 2 cánh, Cánh A do Trung Tá Trương Vĩnh Phước gồm các Đại Đội 60, 61 và 62 giữ an ninh cho BCH/LĐ2ND tại Tà Bạt, Cánh B gồm 2 Đại Đội 63 & 64 do TĐP Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy hoạt động phía Bắc của Alpha và Bravo.

- Ngày 4/4/1971, TĐ6ND do Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh làm TĐT cùng toàn thể LĐ2ND được không vận lên Pleiku từ phi trường Đông Hà bằng phi cơ C141 của Hoa Kỳ tăng phái cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh để mở cuộc Hành Quân Quang Trung 22/2 giải tỏa áp lực địch quân quanh Căn Cứ 6 ở Kontum.

- Ngày 6/4/1972, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, cùng LĐ1 ND do Đại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy di chuyển bằng đường bộ đến Lai Khê với nhiệm vụ tăng cường giải tỏa QL13 và giải vây An Lộc. Lai Khê là bản doanh của BTL/SÐ5BB.

- Lúc 14.30 giờ ngày 14/4/1972, TĐ6ND được trực thăng thả xuống tại một trảng trống giữa đồi Gió và đồi 169, đây là những chiến binh đầu tiên từ bên ngoài đã dũng cảm nhảy vào An Lộc để tăng cường chiến đấu bảo vệ một cứ điểm chiến lược quan trọng trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa.

- Ngày 4/6/1972, TĐ6ND lại được trực thăng vận xuống phía Bắc Căn Cứ Hỏa Lực Long Phi phía Nam thành phố An Lộc để giải tỏa QL13 từ Tân Khai hướng lên phía Bắc qua Xa Cam, Xa Trạch rồi Xa Cat. Và rồi đúng 17 giờ15 ngày 8 tháng 6, Đại Úy Ngô Xuân Vinh, Đại Đội Trưởng ĐĐ62, đứng lên mặt đường nhựa, ngã ba vào xã Thanh Bình (đồn điền Xa Cam) bắt tay với Đại Úy
Trương Ngọc Ni Đại Đội Trưởng 81 Nhảy Dù, đơn vị cực Nam của An Lộc để đánh dấu một chiến thắng quan trọng ngày giải tỏa AN LỘC.

- Ngày 8/5/1972 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, BCH/LÐ1ND cùng các Tiểu Đoàn 5, và 8 Nhảy Dù sau khi giải tỏa An Lộc được bổ sung quân số, tái huấn luyện và trang bị lần lược được không vận ra Huế tăng cường cho mặt trận Quân Khu I chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị.

- Ðầu tháng 11/1972, TÐ6ND thay thế TĐ7ND trấn đóng căn cứ Anne (Động Ông Đô) TÐ6ND đã giao tranh ác liệt và gây thiệt hại nặng nề cho đối phương, hơn 2 Tiểu Ðoàn cộng quân đã bị loại khỏi vòng chiến. 2 ÐĐT/TÐ6ND bị thương, khoảng 150 HSQ & BS bị thương vong.

- Ngày 11/8/1974 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyển Hửu Thành làm Tiểu Đoàn Trưởng cùng toàn bộ LĐ3ND được lệnh di chuyển bằng phi cơ từ phi trường Phú Bài xuống phi trường Đà Nẵng trách nhiệm án ngử ở quận Hiếu Ðức sau khi bàn giao khu vực trách cho Liên Ðoàn 15 Biệt Động Quân / Quân Khu 1.

- Chiều ngày 19/3/1975 TĐ6ND cùng LĐ3ND đang trên đường về Sài Gòn sau khi được lệnh triệt thoái khỏi Đà Nẳng, được lệnh đổ quân xuống Cầu Đá Nha Trang để tăng viện cho mặt trận Quân Khu 2. Sau khi cập Bến Nha Trang, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù điều động 3 Tiểu Đoàn 2, 5 & 6 Nhảy Dù cùng một Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly và Đại Đội 3 Trinh Sát Nhảy Dù đến lập tuyến phòng thủ dọc theo QL21 trên đèo M’Drak khởi đầu từ chân đèo Phượng Hoàng đến Khánh
Dương.

Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhẩy Dù :
1- Thiếu Tá Đổ Cao Trí. ( 1/3/1954 – 29/9/1954 ) Thiếu Tá Đổ Cao Trí làm Tiểu Đoàn Trưởng từ ngày thành lập cho đến ngày 29/9/1954 lên làm Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và bàn giao cho TĐP là Đại Úy Thạch Con.

2/ Ðại Úy Thạch Con. (29/9/1954 – 5/1955) thay thế Thiếu Tá Đổ Cao Trí đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 cho đến Tháng 5/1954 thi bỏ đơn vị sang xứ Kampuchea. Đại Úy Nguyễn Văn Viên từ TĐ5ND được điều động sang nắm giử chức vụ TĐT/TĐ6ND.

3- Đại Úy Nguyển Văn Viên (23/5/1955 – 1957 ) Từ TĐ5ND sang giữ chức TĐT/TĐ6ND cho đến cuối năm 1957 ông bị giải ngũ và Đại Úy Dư Quốc Đống đang chỉ huy Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự của Liên Đoàn Nhảy Dù được chỉ định thay thế.

4- Ðại Úy Dư Quốc Ðống (12/1957 -1959) Đại Úy Dư Quốc Đống đảm nhận chức vụ TĐT/TĐ6ND đến đầu năm 1959 ông được thuyên chuyển về làm TĐT/TĐ1ND và bàn giao lại cho Đại Úy Đỗ Kế Giai.

5- Ðại Úy Ðổ Kế Giai (1959 – 1962) Đại Úy Đổ Kế Giai đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND cho đến khi lên làm Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhày Dù.

6Thiếu Tá Tông Hồ Hàm (1962) Từ Phủ Tổng Thống về làm TĐT TĐ6ND một thời gian ngắn.

7- Đại Úy Lê Văn Đặng (1962 – 1/11/1963) Đại Úy Lê Văn Đặng thay thế Thiếu Tá Tống Hồ Hàm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đến ngày 1/11/1963 thì bị Đại Úy Vũ Thế Quang thay thế để điều động đơn vị tham gia đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

8- Đại Úy Vũ Thế Quang (1963 – 1965) Đại Úy Vũ Thế Quang điều động TĐ6ND tham gia cách mạng thành công và được thăng cấp Thiếu Tá và vẫn duy trì chức vụ TĐT đến năm 1965 mới bàn giao lại cho Đại Úy Nguyễn Văn Minh.

9- Đại Úy Nguyễn Văn Minh (1965-30/6/1966 ) Đại Úy Nguyễn Văn Minh đảm nhiệm chức vụ TĐT TĐ6ND, sau trận Ia Drang được thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận. Đến ngày 30/6/1966 Thiếu Tá Minh bị thương trong cuộc hành quân Thần Phong 11 tại Tỉnh Bình Định và Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước thay thế.

10- Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước (1966 - 4/1971) Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước giử chức vụ TĐT TĐ6ND cho đến sau trận Hạ Lào tháng 4 năm 1971 bàn giao lại cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh để đảm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù

11- Thiếu Tá Nguyễn Văn Đĩnh (4/1971 – 11/72) Thiếu Tá Nguyễn Văn Đỉnh thay thế Trung Tá Trương Vĩnh Phước cho đến tháng 11/1972 trong cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa Trung Tá Đỉnh được chỉ định làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ1ND và bàn giao lại cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành

12- Thiếu Tá Nguyển Văn Thành (11/1972 - 30/3/1975) Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành nắm giử chức TĐT/TĐ6ND cho đến ngày 30/3/1975 bị Cộng quân bắt giử sau khi mặt trận Khánh Dương bị cộng quân tràn ngập.

13- Thiếu Tá Trần Tấn Hòa ( 1/4/1975 – 30/4/1975 ) Sau khi Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành bị Cộng quân bắt ngày 30/3/1975 tại Khánh Dương, BTL/SĐND chỉ định Thiếu Tá Trần Tấn Hòa, TĐP lên thay thế cho đến ngày cuối cùng 30/4/1975. 

Tài liệu tham khảo:
- 6e bataillon de parachutistes vietnamiens on Wikipedia L’encyclopedie libre
- Insignia of The Republic Of VietNam Airborne Division copyright @ 2002 by Harry F. Pugh
- Phỏng vấn trực tiếp một số chiến hữu và Niên Trưởng trong SĐND:

Trích từ quyển ‘20 Năm Chiến Sự’’- Binh chủng Nhảy Dù 
Đại Úy Võ Trung Tín - Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202
Đại Úy Nguyễn Hữu Viên - Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435

Tân Sơn Hòa chuyển

Thursday, January 16, 2014

• Biệt Động Quân - Tết Mậu-Thân Tại Sài Gòn - Vũ Đình Hiếu

Biệt Động Quân - Tết Mậu-Thân Tại Sài Gòn
by Vũ - Đình - Hiếu - Tram nguyen

Năm 1967, quân cộng sản bị tổn thất nặng sau những trận đánh lớn với quân đội VNCH và đồng-minh. Biết rằng không thể đương đầu với QLVNCH trong một trận chiến trực diện, Hà-Nội đã bí mật chuẩn bị cho một trận tấn công bất ngờ. Lợi dụng thời gian hưu chiến cho Tết Mậu- Thân 1968, quân CSBV / Việt cộng phát động chiến dịch Tổng công-kích / Tổng khởi-nghiã trên khắp miền nam Việt-Nam. Địch quân đã tấn công hoặc pháo kích vào 36 trong số 44 thành phố chính của miền nam, 5 thành phố lớn, và hầu hết các phi trường để trì hoãn các cuộc chuyển quân của QLVNCH và đồng minh.

Sunday, July 21, 2013

• Tiểu Sử Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù

Tiểu Sử Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù



Ngày thành lập đơn vị 01/09/1953 

- Tại Trường Bưởi, Hà Nội   
Từ năm 1946 đến năm 1954 là giai đoạn các đơn vị Nhẩy Dù Việt Nam ra đời, gồm các tiểu đoàn 1, 3, 4, 5, 6, 7; Tiểu Đoàn 5 thành lập ngày 01/09/1953 bởi SVVT số 08337-TTM-I-ISC-SC ngày 13/08/1953. Tuy nhiên lúc đó các cấp chỉ huy của các đơn vị lúc đó phần đông là người Pháp.  

Những trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ5ND :

- Sau tháng 7, 1954 thì TĐ5ND cùng các TĐ3, & 7ND từ Bắc Việt di chuyển vào đóng tại Nha Trang. Lúc này, Các sĩ quan Việt Nam đã thay thế người Pháp nắm những chức vụ chỉ huy cao cấp.

- Ngày 25/3/1955 đóng ở Nha Trang được hơn nửa năm trời, thì các đơn vị Nhảy Dù được lịnh di chuyển cấp tốc vào Sài Gòn để dẹp nội loạn Bình Xuyên.
Sau khi đánh đuổi quân phiến loạn Bình Xuyên khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn, Trung Úy Nguyễn Văn Viên được thăng cấp Ðại Úy thực thụ. Sau đó Ðại Úy Viên trao quyền chỉ huy TÐ5ND cho Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi. Ðại Úy Nguyễn Văn Viên về chỉ huy TÐ6ND thay Đại Úy Thạch Con (bỏ sang Kampuchea làm Tư Lệnh Lực lượng Nhảy Dù xứ nầy).

- Ngày 21/9/1955 Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi được Tổng Thống Diệm chỉ định làm Chỉ Huy Phó Liên Đoàn Nhảy Dù chỉ huy 3 Tiểu Đoàn 1,5&6 tham gia chiến dịch Hoàng Diệu tảo thanh lực lượng Bình Xuyên đến 24/10/1955 tại Rừng Sác. Trong chiến dịch nầy Đại Úy Ngô Xuân Soạn chỉ huy TĐ5ND.

- Ngày 12/12/1959 Lữ Đoàn Dù được lịnh hành quân vào chiến khu D giải tỏa áp lực địch và tiếp viện Trung Đoàn 10/SĐ7. TĐ5 do Đại Úy Ngô Xuân Soạn chỉ huy tiến theo cánh trái trong khi TĐ6ND do Đại Úy Đổ Kế Giai chỉ huy.tấn công vào sào huyệt của VC.

- Ngày 10/11/1960 Đại Úy Ngô Xuân Soạn TĐT/TĐ5ND không đồng ý tham gia vào cuộc binh biến lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm nên bị sát hại tại khu vườn cao su phía sau bản doanh của TĐ3ND.

- Ngày 20/9/1961, TĐ5ND cùng Lữ Ðoàn Nhảy Dù gồm 3 Tiểu Ðoàn do Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù trực tiếp chỉ huy nhảy dù xuống chiếm lại tỉnh lỵ Phước Thành.

- Ngày 27/4/1964 TĐ5ND trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMNVN), tịch thu 160 súng đủ loại.

- Cuối Tháng 5/1963 Thiếu Tá Hô Tiêu TĐT, Đại Úy Ngô Quang Trưởng TĐP kiêm Trưởng Ban 3 đã tấn công vào Ấp Bắc lần 2 đánh tan một lực lượng CS cấp Trung Đoàn. Trong trận nầy Trung Úy Nguyễn Xuân Hiền bị tử trận.

- Ngày 3/1/1965, Tiểu Đoàn 5 do Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy cùng với Tiểu Đoàn 6 do Thiếu Tá Vũ Thế Quang làm TĐT và Tiểu đoàn 7 do Thiếu Tá Ngô Xuân Nghị làm TĐT dưới sự điều động của Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù do Trung Tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng nhảy trực thăng vận càn
quét mật khu Hắc Dịch của Cộng sản trong vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ địa của Công Trường 7 MTGPMN. Sau hai ngày chạm súng và TĐ5ND đã gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7 của Việt Cộng.

- Ngày 30/3/1965 Không vận đến Tam Kỳ Quảng Tín tham dự Hành Quân Quyết Thắng 512, Bác sỉ Ðổ Vinh tử trận.

- Ngày 1/6/1965 Giải cứu đồn Ba Gia Quảng Ngải, TĐ5ND do Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy được tăng phái cho Chiến Đoàn B TQLC.

- Từ ngày 9 đến 15/8/1965 Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy dưới quyền điều động của Trung Tá Ngô Xuân Nghị Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù tham gia trận đánh giải tỏa Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ tại Quân Khu 2 đã bị Cộng quân vây hảm với mục đích ‘Công đồn đã viện’

- Ngày 1/11/1965 TĐ5ND tham gia Chiến đoàn Đặc nhiệm Nhảy Dù (gồm 3 Tiểu Đoàn 3, 5 & 6 ND) do Trung Tá Trương Quang Ân chỉ huy tham dự chiến dịch Ia Drang tại Quân Khu II (giai đoạn I)

- Ngày 30/12/1965 cùng TĐ1ND mở cuộc hành quân An Dân 564 tại vùng tiếp giáp biên giới Miên-Việt tỉnh Hậu Nghĩa. Đánh tan đơn vị địch là tiểu đoàn D9 thuộc Công Trường 9 của VC.

- Ngày 18/1/1966 TĐ5ND do Thiếu Tá Nguyễn Vỹ làm Tiểu Đoàn Trưởng được không vận bằng C130 đến Qui Nhơn để tham dự hành quân Thần Phong 11 trong vùng Bồng Sơn, Tam Quan Tỉnh Bình Bịnh.

- Ngày 14/5/66 TĐ5ND và 4 TĐ Nhảy Dù khác do Đại Tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy được không vận ra Đà Nẳng và Huế để tái lập trật tự sau vụ việc gọi là biến động miền Trung.

- Ngày 18/5/1967 dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Đào Văn Hùng, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù, TĐ5ND cùng với Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 9 tham dự hành quân Lam Sơn 54 trong khu Phi Quân Sự yểm trợ cho việc thiết lập hàng rào điện tử Mc Namara. Trong trận nầy Thiếu Tá Lê Văn Huệ
TĐT/TĐ9ND bị tử trận.

- Ngày 8/11/1967, Chiến Đoàn 3Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam làm Chiến Đoàn Trưởng gồm ba Tiểu Ðoàn 2, 3 và 5 ND được gởi đến tăng viện phía Bắc Tân Cảnh để tấn công Trung Ðoàn 24 CSBV tại cao điểm 1416.

- Ngày 30/1/1968 trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân, TĐ5ND bảo vệ thành phố Đà Nẳng.

- Ngày 3/6/1968 trong cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân đợt 2 vào Sài Gòn, Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù giải tỏa áp lực VC trong vùng chùa Tập Thành Cây Quéo Gia Định.

- Bắt đầu từ ngày 8/2/1971 toàn bộ SĐND gồm 9 Tiểu Đoàn Nhảy Dù và các đơn vị yểm trợ được không vận ra Đông Hà tham dự cuộc Hành Quân Hạ Lào Lam Sơn 719 đến ngày 3/4/1972.

- Ngày 4/4/1971 TĐ5ND do Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu làm TĐT được không vận từ Đông Hà đến Dakto cùng với TĐ6 & 11ND để tham dự cuộc Hành quân giải tỏa Căn Cứ 6 ở Kontum.

- Ngày 6/4/1972 trong chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa, TĐ5ND cùng TĐ6 & TĐ8ND được điều động giải vây An Lộc dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Lưỡng LĐT/LĐIND đến ngày 12/6/1972

- Ngày 28/5/1972 sau khi giải vây An Lộc, TĐ5ND được không vận ra Huế để tham dự Chiến dịch Lôi Phong hành quân tái chiếm Quảng Trị.

- Ngày 25/7/1972 Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu chỉ huy TĐ5ND tấn công vào Cổ Thành Quãng Trị tái chiếm và cấm cờ lên bờ Cổ Thành. Nhưng 2 quả bom do đồng minh thả lầm sát hại trên 55 chiến sĩ ưu tú của Đại Đội 51 và 52 Nhảy Dù. Gần phân nửa quân số của TĐ5ND bi thương tích.

- Ngày 15/3/1975, đang trấn đóng tại Đại Lộc Quảng Nam sau chiến trận Thượng Đức được lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho Lữ Đoàn 369 TQLC và cùng toàn thể LĐ3ND xuống 2 tàu Dương Vận Hạm HQ504 và HQ404 của Hải Quân tại cảng Đà-Nẳng để xuôi Nam về phòng thủ SàiGòn theo lệnh triệt
thoái của bộ TTM.

Chiều ngày 19/3/1975, sau 2 ngày và 3 đêm hải hành, toàn bộ LĐ3ND được lệnh đổ quân xuống Cầu Đá Nha Trang để tăng viện cho mặt trận Quân Khu 2. lập tuyến phòng thủ Khánh Dương.

- Sáng ngày 1/4/1975, TĐ5ND và một vài thành phần thất tán của LĐ3ND về đến Phi Trường Phan Rang và được điều động để lục soát và giử an ninh khu vực nội vi phi trường và vòng đai từ Bà Râu tới Thị Xả Phan Rang. Chiều ngày 9/4, Trung Đoàn 4 của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, với quân số khoảng 450 người, được điều động thay thế TĐ5ND phòng thủ phía Tây Phi Trường Phan Rang và TĐ5ND được không vận về Biên Hòa để chỉnh bị đơn vi. 

Các cuộc hành quân tham dự:

- HQ Hắc Dịch
HQ Phi Hỏa
- HQ Lam Sơn 
- HQ GoodWood 
- HQ Lam Sơn 719 
- HQ Dân Chí 69
- HQ Đại Bàng 72-A-B-C-H-E-M
- HQ Đại Bàng 1-74, 3-74
- HQ Phi Hỏa 6 Đại Phong 
- HQ Quyết Thắng 
- HQ Trần Hưng Đạo 
- HQ Toàn Thắng 2-68, 43,
- HQ Toàn Thắng 81-LĐ2ND-2-70
- HQ Toàn Thắng C48, E-2 
- HQ Phi Phụng
- HQ Bắc Bình Vương

- HQ Đại Bàng 18-A-B, 1-70, 2-71, 3-71, 72-A, 72A 


Các Vị Chỉ Huy Liên Tiếp:

1- Đại Úy Jacque Bouvery                 01/09/1953
2- Đại Úy Andre Botelia                    18/12/1953
3-  Đại Úy Auguste Tholly                 18/05/1954
4- Đại Úy Le Saux                              15/07/1954
5- Đại Úy Decally                               24/02/1955
6- Trung Úy Nguyển Văn Viên          01/04/1955  
7- Đại Úy Nguyễn Chánh Thi             23/05/1955
8- Ðại Úy Ngô Xuân Soạn                 28/11/1955 
9- Ðại Úy Hồ Tiêu                            14/11/1960
10- Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng      01/11/1963
11- Thiếu Tá Hồ Trung Hậu              15/04/1965 
12- Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam        01/03/1966  
13- Thiếu Tá Nguyễn Chí Hiếu          16/10/1969  
14- Thiếu Tá Bùi Quyền                   05/10/1972
15- Thiếu Tá Võ Trọng Em               05/04/1975